Tăng cường phòng ngừa, giám sát, kiểm soát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường giai đoạn 2026-2030

Tin tức - Sự kiện 03/08/2026

Ngày 3/8/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã ban hành Quyết định số 3052/QĐ-BNNMT về Kế hoạch tăng cường phòng ngừa, giám sát, kiểm soát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường giai đoạn 2026–2030.

Kế hoạch xác định rõ trọng tâm là chủ động phòng ngừa, tăng cường giám sát, kiểm soát các cơ sở có nguồn thải lớn, khu vực tập trung nhiều nguồn thải, các điểm nóng về ô nhiễm môi trường và các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao. Cùng với đó, Kế hoạch đặt yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan và nâng cao ý thức, trách nhiệm của doanh nghiệp trong tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường.
Tăng cường phòng ngừa, giám sát các cơ sở có nguy cơ cao
Kế hoạch được thực hiện trên phạm vi các tỉnh, thành phố trên toàn quốc trong giai đoạn 2026–2030, triển khai hằng năm và đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường và chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Đối tượng trọng tâm gồm các cơ sở có công suất lớn, nguồn thải lớn, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao; các khu vực tập trung nhiều nguồn thải, các điểm nóng có nhiều phản ánh về ô nhiễm môi trường; đồng thời bao gồm các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước về môi trường của Bộ theo quy định hiện hành.
Một trong những nhiệm vụ được xác định cụ thể là tiếp tục giám sát 5 cơ sở có công suất lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao theo chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền gồm: Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh; Công ty TNHH MTV Nhôm Lâm Đồng - TKV; Công ty Nhôm Đắk Nông - TKV; Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân và Công ty Cổ phần Bột - Giấy VNT19. Việc giám sát được thực hiện trong giai đoạn 2026–2030, với Cục Môi trường là đơn vị chủ trì và sự phối hợp của các cơ quan chuyên môn tại Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Quảng Ngãi, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường và các đơn vị liên quan.

Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh là một trong 5 cơ sở có công suất lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao tiếp tục được giám sát trong giai đoạn 2026–2030 (Ảnh sưu tầm)

Mục tiêu của hoạt động giám sát không chỉ là theo dõi việc tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường mà còn kịp thời phát hiện các vấn đề, tồn tại để cơ sở khắc phục và xử lý vi phạm nếu có. Qua đó, Kế hoạch hướng tới tăng cường phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và phát hiện sớm những vấn đề phát sinh từ thực tiễn để báo cáo, đề xuất biện pháp xử lý hoặc rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách.
Đáng chú ý, đối với Trung tâm Điện lực Vĩnh Tân, Kế hoạch đặt mục tiêu đánh giá tổng lượng thải và xác định phạm vi ảnh hưởng từ hoạt động của Trung tâm đến khu dân cư xung quanh theo chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ. Đây là một trong những nội dung cụ thể cho thấy yêu cầu giám sát được gắn với việc đánh giá thực tế tác động môi trường của các cơ sở có quy mô và nguy cơ cao.
Kiểm soát nguồn thải bằng dữ liệu và công nghệ
Bên cạnh giám sát các cơ sở cụ thể, Kế hoạch dành trọng tâm cho việc kiểm soát nguồn thải lớn, các khu vực tập trung nhiều nguồn thải và các điểm nóng có nhiều phản ánh về ô nhiễm môi trường. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có công suất lớn, nguồn thải lớn; các cơ sở, khu vực sản xuất có nguy cơ cao gây ô nhiễm hoặc gây ô nhiễm kéo dài; các cơ sở thuộc nhóm loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm và các cơ sở có nguồn thải lớn tại khu vực nhạy cảm về môi trường sẽ được tập trung kiểm soát.
Một nội dung đáng chú ý của Kế hoạch là xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn thải, lấy cơ sở làm chủ thể và các nguồn thải của cơ sở làm trung tâm. Thông tin sẽ được cập nhật từ quá trình phát sinh đến khi hoàn thành việc xử lý các loại chất thải. Cơ sở dữ liệu nguồn thải được xác định là một bộ phận của cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, phục vụ công tác quản lý, giám sát nguồn thải theo chủ trương tăng cường “hậu kiểm” và chuyển đổi số.
Để có cơ sở cho việc quản lý, Kế hoạch yêu cầu thu thập, thống kê các nguồn thải có lưu lượng xả nước thải từ 200 m³/ngày đêm trở lên và nguồn thải có lưu lượng xả bụi, khí thải từ 50.000 m³/giờ trở lên, cùng các nguồn ô nhiễm, phát sinh chất thải trên phạm vi cả nước. Trên cơ sở đó, lập danh mục các cơ sở cần kiểm soát, kiểm tra hoặc đề xuất kiểm tra liên ngành định kỳ, đột xuất về bảo vệ môi trường; trong đó tập trung vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung và các cơ sở sản xuất nằm ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Cùng với dữ liệu, công nghệ được xác định là một công cụ quan trọng trong hoạt động giám sát. Kế hoạch đề ra việc tăng cường ứng dụng camera AI, drone, viễn thám, quan trắc tự động, liên tục, IoT và các công nghệ hiện đại khác dựa trên thông tin, dữ liệu nguồn thải để theo dõi thường xuyên việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và tuân thủ quy chuẩn xả thải của các cơ sở. Trước mắt, các công nghệ này được triển khai thí điểm có kiểm soát đối với một số nguồn thải tại các khu vực nhạy cảm về môi trường, có nguy cơ gây ô nhiễm lớn, vùng tác động lớn, đặc biệt là các khu vực trọng yếu, tập trung đông dân cư như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Việc theo dõi cũng được thực hiện đối với hệ thống quan trắc tự động, liên tục các thành phần môi trường. Khi phát hiện dấu hiệu bất thường như giá trị quan trắc vượt quy chuẩn kỹ thuật, không truyền dữ liệu hoặc có vấn đề liên quan đến kiểm soát lưu lượng, việc xử lý sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định có liên quan.
Từ kiểm soát nguồn thải đến xử lý điểm nóng, phòng ngừa sự cố
Một nội dung xuyên suốt của Kế hoạch là xử lý các điểm nóng môi trường trên cơ sở tiếp nhận và xác minh thông tin từ nhiều nguồn, trong đó có phản ánh, kiến nghị và các phương tiện thông tin truyền thông. Cục Môi trường chủ trì việc rà soát, tiếp nhận thông tin, tổ chức xác minh, xử lý và theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện.
Cụ thể, tại Phụ lục II của Kế hoạch, các nhiệm vụ kiểm soát nguồn thải và ô nhiễm môi trường được triển khai tại 34 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2026–2030. Kế hoạch xác định kiểm soát các cơ sở, khu vực sản xuất có nguy cơ cao gây ô nhiễm, gây ô nhiễm kéo dài hoặc nhận được nhiều phản ánh, kiến nghị của cử tri, cơ quan truyền thông và người dân. Cùng với đó là tổng hợp, đánh giá nguồn thải, phát sinh chất thải và công tác kiểm soát nguồn thải, quản lý chất thải; xử lý các điểm nóng, sự cố môi trường; kiểm soát, đánh giá, cập nhật công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các nhóm cơ sở có nguồn thải hoặc nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. 

Tăng cường hoạt động kiểm soát nguồn thải, nguồn ô nhiễm môi trường 

Danh mục kiểm soát cũng bao gồm các cơ sở có lưu lượng xả bụi, khí thải lớn từ 50.000 m³/giờ; các cơ sở sản xuất không nằm trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp có lưu lượng xả thải từ 200 m³/ngày đêm; các cơ sở sản xuất nằm trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp được miễn trừ đấu nối; cơ sở sản xuất giấy và sản phẩm giấy có công đoạn sản xuất bột giấy hoặc sử dụng nguyên liệu tái chế; cơ sở nhiệt điện than và sản xuất xi măng; cơ sở sản xuất kim loại; cùng các cơ sở dịch vụ tái chế, xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường và chất thải nguy hại.
Đối với sự cố môi trường, Kế hoạch đặt yêu cầu khảo sát, đánh giá chất lượng môi trường tại các khu vực tập trung cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm, nhất là hệ thống xử lý nước thải, hồ chứa nước thải, hồ chứa quặng đuôi và các bãi chứa chất thải có nguy cơ xảy ra sự cố; đồng thời xem xét các biện pháp bảo đảm an toàn trong mùa mưa bão. Khi xảy ra sự cố trên địa bàn từ 2 tỉnh trở lên, cơ quan chức năng thực hiện thu thập, thẩm định dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại; tham gia xác định nguyên nhân sự cố cấp quốc gia hoặc ứng phó sự cố chất thải và xây dựng kế hoạch phục hồi môi trường đối với sự cố môi trường cấp quốc gia.
Để thực hiện các nhiệm vụ này, Kế hoạch nhấn mạnh tăng cường phối hợp giữa các tỉnh, thành phố, các cơ quan liên ngành và lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường. Cùng với năng lực đánh giá kỹ thuật chuyên môn của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, các biện pháp nghiệp vụ và thẩm quyền điều tra của lực lượng Công an được kết hợp nhằm hỗ trợ giải quyết kịp thời các vấn đề môi trường phát sinh và thiết lập cơ chế răn đe đối với các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Kế hoạch cũng yêu cầu chủ động rà soát, cập nhật danh mục các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm để phân loại và xây dựng kế hoạch giám sát phù hợp; ứng dụng công nghệ trong giám sát, khai thác hiệu quả hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu môi trường, hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ nguồn thải, bản đồ khu vực, điểm có nguy cơ gây ô nhiễm. Đồng thời, công tác tuyên truyền, hướng dẫn và nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong thực hiện đúng quy định pháp luật về bảo vệ môi trường được xác định là một trong những giải pháp thực hiện.
Việc triển khai Kế hoạch vì vậy không chỉ đặt trách nhiệm lên cơ quan quản lý môi trường ở Trung ương. UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tăng cường phòng ngừa, giám sát, kiểm soát tại các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm trên địa bàn; phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong các tổ giám sát, đoàn công tác liên ngành, khảo sát, kiểm tra, xác minh vụ việc và điểm nóng môi trường. Cục Môi trường giữ vai trò chủ trì tổ chức thực hiện, duy trì và cập nhật hệ thống thông tin, phần mềm và cơ sở dữ liệu nguồn thải, đồng thời tổng hợp thông tin, số liệu phục vụ công tác quản lý và chỉ đạo.
Với thời gian thực hiện từ năm 2026 đến năm 2030, Kế hoạch đặt trọng tâm vào việc chủ động nhận diện nguy cơ, theo dõi nguồn thải, kiểm soát các cơ sở có nguy cơ cao, xử lý kịp thời các điểm nóng và chuẩn bị phương án ứng phó, phục hồi môi trường khi sự cố xảy ra. Việc kết hợp giữa cơ sở dữ liệu nguồn thải, công nghệ giám sát, kiểm tra liên ngành và trách nhiệm của các địa phương tạo thành các nhóm nhiệm vụ được triển khai đồng thời trong công tác phòng ngừa, giám sát và kiểm soát ô nhiễm môi trường.