Kiểm soát ô nhiễm không khí: Cần hành động đồng bộ, liên ngành và liên vùng
Tin tức - Sự kiện 29/09/2026
Tới dự và chủ trì Hội thảo có ông Lê Trọng Yên, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; bà Nguyễn Thị Liên Hương, Thứ trưởng Bộ Y tế; bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện UNDP tại Việt Nam; bà Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam và khoảng 200 đại biểu là các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các đối tác phát triển.
Từ cam kết chính sách đến hành động vì sức khỏe cộng đồng
Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới trong kiểm soát ô nhiễm không khí, với yêu cầu không chỉ hoàn thiện chính sách mà quan trọng hơn là đưa các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra vào thực tiễn. Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi ô nhiễm không khí tại một số đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội và các tỉnh lân cận, đã kéo dài trong nhiều năm, đặt ra những thách thức đối với sức khỏe người dân và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên phát biểu khai mạc Hội thảo
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên nhấn mạnh, công tác khắc phục ô nhiễm môi trường không khí đang nhận được sự quan tâm và chỉ đạo quyết liệt. Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, trong đó giải quyết ô nhiễm không khí được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm. Cùng với đó, Kế hoạch hành động quốc gia về khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 2530/QĐ-TTg ngày 19/11/2025 đã xác định một loạt nhiệm vụ trọng tâm, từ nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, kiểm kê phát thải đến tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng và triển khai các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Đây là cơ sở quan trọng để thúc đẩy các giải pháp kiểm soát ô nhiễm không khí một cách đồng bộ, từ Trung ương đến địa phương.
Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách cuối cùng phải được thể hiện bằng sự cải thiện thực tế của chất lượng không khí và sức khỏe người dân. Đây cũng là điểm kết nối trực tiếp giữa chính sách môi trường và chính sách y tế, bởi phía sau những con số về nồng độ bụi mịn hay chỉ số chất lượng không khí là nguy cơ bệnh tật, chi phí chăm sóc sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương phát biểu tại Hội thảo
Từ góc độ y tế, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương nhấn mạnh, một trong những kết quả quan trọng nhất mà ngành Y tế mong muốn là chất lượng không khí được cải thiện, qua đó giảm thiểu tác động đối với sức khỏe và gánh nặng bệnh tật. Vì vậy, bảo vệ sức khỏe cộng đồng cần được đặt ở vị trí trung tâm trong các nỗ lực kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng không khí.
Cùng với quyết tâm ở cấp quốc gia, các tổ chức quốc tế cho rằng thách thức quan trọng trong giai đoạn tới là chuyển những mục tiêu và cam kết về chất lượng không khí thành hành động cụ thể, có khả năng đo lường và đánh giá được hiệu quả.

TS Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
TS Angela Pratt, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam, đánh giá Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo mạnh mẽ khi đặt ra những mục tiêu đầy tham vọng về chất lượng không khí. Theo TS Angela Pratt, thách thức hiện nay là biến những cam kết đó thành hành động và kết quả có thể đo lường được, qua đó bảo vệ sức khỏe, nâng cao năng suất và hỗ trợ phát triển bền vững.

Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
Ở góc nhìn rộng hơn, cải thiện chất lượng không khí không chỉ đem lại lợi ích về môi trường và sức khỏe mà còn tạo ra những lợi ích phát triển dài hạn. Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam, nhấn mạnh không khí sạch là nền tảng của phát triển bền vững, tác động trực tiếp đến cách con người sống, học tập, làm việc và phát triển. Giải quyết ô nhiễm không khí vì vậy có thể đồng thời góp phần xây dựng cộng đồng khỏe mạnh hơn, thúc đẩy nền kinh tế xanh và nâng cao khả năng chống chịu trước những thách thức trong tương lai.

Ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường phát biểu tại Hội thảo
Những góc nhìn từ cơ quan quản lý, ngành y tế và các tổ chức quốc tế cho thấy một điểm chung: kiểm soát ô nhiễm không khí cần vượt ra khỏi phạm vi của riêng lĩnh vực môi trường để trở thành nhiệm vụ liên ngành, gắn kết chặt chẽ giữa quản lý nguồn phát thải, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và mục tiêu phát triển bền vững. Đây cũng là cơ sở để chuyển trọng tâm từ việc xác lập chính sách sang tổ chức thực hiện, đo lường kết quả và tạo ra những thay đổi thực chất về chất lượng không khí.
Kiểm soát ô nhiễm cần cách tiếp cận đồng bộ, đa ngành

Ông Lê Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Môi trường trình bày tham luận tại Hội thảo
Mở đầu phiên tham luận, ông Lê Hoài Nam, Phó Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tập trung làm rõ những nhiệm vụ đặt ra trong quản lý chất lượng không khí. Theo đó, định hướng quản trị trong giai đoạn tới là xác lập mục tiêu chất lượng không khí đối với từng vùng, từng đô thị và từng giai đoạn; tăng cường điều phối liên vùng; kiểm kê, xác định rõ nguồn phát thải và xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn thải thống nhất; đồng thời phát triển hệ thống quan trắc, cảnh báo, dự báo và gắn kết quả cải thiện chất lượng không khí với trách nhiệm thực thi của chính quyền địa phương.
Cùng với hoàn thiện thể chế, việc xây dựng cơ chế phối hợp liên vùng, liên tỉnh, kế hoạch quản lý chất lượng không khí tại các địa phương, kiểm kê và kiểm soát nguồn thải được xác định là những nhiệm vụ cần tiếp tục thúc đẩy. Dữ liệu phát thải và chất lượng không khí cần từng bước được kết nối từ cơ sở, địa phương đến cơ quan quản lý trung ương; mạng lưới quan trắc, cảnh báo và dự báo tiếp tục được mở rộng, nâng cấp, kết hợp ứng dụng các công nghệ mới nhằm cung cấp thông tin kịp thời cho quản lý và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Bà Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh trình bày tham luận tại Hội thảo
Theo bà Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế, ô nhiễm không khí đang trở thành một yếu tố nguy cơ sức khỏe đáng lưu ý tại Việt Nam. Dữ liệu từ nghiên cứu Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2023 cho thấy ô nhiễm không khí đứng thứ ba trong các yếu tố nguy cơ gây tử vong hàng đầu tại Việt Nam. Các bằng chứng nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tác động của ô nhiễm không khí có thể diễn ra trong suốt vòng đời, từ bà mẹ, trẻ sơ sinh, trẻ em đến người trưởng thành và người cao tuổi.
Điều này đặt ra yêu cầu quản lý chất lượng không khí phải gắn chặt hơn với giám sát và bảo vệ sức khỏe. Trong đó, ngành Y tế tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng của ô nhiễm không khí; xây dựng cơ sở dữ liệu nhập viện kết nối với dữ liệu chất lượng không khí để phục vụ dự báo, cảnh báo nguy cơ sức khỏe; đồng thời tăng cường truyền thông và hướng dẫn người dân các biện pháp bảo vệ sức khỏe.
Dữ liệu và phối hợp liên vùng là nền tảng của hành động
Không chỉ là thách thức riêng của Việt Nam, ô nhiễm không khí đang đặt ra những vấn đề lớn về sức khỏe và phát triển trên phạm vi toàn cầu. Từ kinh nghiệm quốc tế, các chuyên gia WHO và UNDP nhấn mạnh sự cần thiết phải kết nối chính sách môi trường với y tế, giao thông, năng lượng, công nghiệp và các lĩnh vực liên quan, đồng thời sử dụng dữ liệu làm cơ sở xác định ưu tiên và đánh giá hiệu quả can thiệp.

TS. Enkhtsetseg Shinee, Điều phối viên, Trung tâm Môi trường và Sức khỏe khu vực châu Á - Thái Bình Dương của WHO trình bày tham luận tại Hội thảo
Theo TS. Enkhtsetseg Shinee, Điều phối viên, Trung tâm Môi trường và Sức khỏe khu vực châu Á - Thái Bình Dương của WHO, ô nhiễm không khí là yếu tố nguy cơ sức khỏe môi trường hàng đầu. Trên toàn cầu, ô nhiễm không khí liên quan tới khoảng 6,6 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó khoảng 2,1 triệu ca tại khu vực Tây Thái Bình Dương; 84% số ca tử vong liên quan đến ô nhiễm không khí là do các bệnh không lây nhiễm như bệnh tim mạch, đột quỵ, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và ung thư phổi.
Cách tiếp cận của WHO vì vậy không chỉ dừng ở theo dõi chất lượng không khí mà nhấn mạnh việc tạo lập bằng chứng về tác động sức khỏe, đánh giá hiệu quả của các chính sách và biện pháp can thiệp, tăng cường năng lực của ngành y tế, theo dõi tác động sức khỏe của các nguồn phát thải và thúc đẩy phối hợp giữa y tế với các ngành liên quan.

Ông David Payne, UNDP Việt Nam trình bày tham luận tại Hội thảo
Từ góc độ phát triển, UNDP đặt vấn đề ô nhiễm không khí trong mối quan hệ rộng hơn với kinh tế và biến đổi khí hậu. Ô nhiễm không khí không chỉ làm gia tăng chi phí điều trị và gánh nặng đối với hệ thống y tế mà còn gây tổn thất năng suất lao động và vốn con người. Theo số liệu Ngân hàng Thế giới, thiệt hại sức khỏe do ô nhiễm không khí trên toàn cầu được ước tính khoảng 8,1 nghìn tỷ USD, tương đương 6,1% GDP toàn cầu. Vì vậy, giải quyết ô nhiễm không khí cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư cho phát triển, thay vì chỉ là chi phí dành cho môi trường.
Kinh nghiệm được UNDP tổng hợp cũng cho thấy dữ liệu phải dẫn dắt hành động. Quan trắc chất lượng không khí, kiểm kê phát thải và tích hợp dữ liệu môi trường - sức khỏe là cơ sở để xác định đúng vấn đề và lựa chọn giải pháp. Đồng thời, ô nhiễm không khí là một vấn đề quản trị, đòi hỏi sự tham gia của các ngành môi trường, y tế, giao thông, năng lượng, công nghiệp, nông nghiệp và lực lượng thực thi; trong khi hợp tác vùng có vai trò quan trọng để xử lý cả nguồn ô nhiễm tại chỗ và nguồn ô nhiễm lan truyền từ bên ngoài.

TS. Hoàng Dương Tùng trình bày tham luận tại Hội thảo
Yêu cầu phối hợp này đặc biệt có ý nghĩa đối với các đô thị và địa phương có mối liên kết chặt chẽ về kinh tế, giao thông và nguồn phát thải. Theo TS. Hoàng Dương Tùng, ô nhiễm không khí không bị giới hạn bởi địa giới hành chính; chất ô nhiễm có thể được vận chuyển, biến đổi và tác động vượt ra ngoài nơi phát sinh. Vì vậy, những đô thị lớn như Hà Nội khó có thể giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí một cách độc lập mà cần đặt trong mối quan hệ với các địa phương trong vùng.
Từ đó, vấn đề không chỉ là có cơ chế phối hợp liên tỉnh, liên ngành, mà quan trọng hơn là cơ chế đó được thiết kế và vận hành như thế nào để chuyển mục tiêu chung của toàn vùng thành trách nhiệm, hành động cụ thể của từng địa phương, từng ngành và có thể đánh giá được kết quả. Quản trị chất lượng không khí theo vùng vì vậy cần dựa trên dữ liệu và bằng chứng chung, từ nhận diện nguồn phát thải, chia sẻ dữ liệu, dự báo và cảnh báo đến lựa chọn biện pháp can thiệp, phân định trách nhiệm và theo dõi hiệu quả thực hiện.
Kinh nghiệm Bắc Kinh: Kiểm soát bền bỉ, đồng bộ và trên quy mô vùng
Kinh nghiệm của Bắc Kinh cho thấy cải thiện chất lượng không khí là một quá trình dài hạn, đòi hỏi các biện pháp kiểm soát được triển khai đồng bộ và liên tục. Từ năm 2013, thành phố triển khai nhiều biện pháp giảm ô nhiễm, tập trung vào kiểm soát nguồn phát thải, giảm phát thải từ các dự án và nâng cao hiệu quả quản lý. Quá trình này diễn ra trong bối cảnh kinh tế - xã hội của Bắc Kinh tiếp tục phát triển nhanh, tạo áp lực lớn đối với môi trường.

Bà Li Li, Vụ Môi trường Khí quyển, Cục Sinh thái và Môi trường thành phố Bắc Kinh chia sẻ kinh nghiệm tại Hội thảo
Một điểm đáng chú ý trong kinh nghiệm của Bắc Kinh là kiểm soát ô nhiễm không chỉ giới hạn trong phạm vi thành phố. Cơ chế phối hợp được thiết lập giữa Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc và các khu vực lân cận, gắn với nền tảng tham vấn chung về cảnh báo sớm ô nhiễm không khí, thống nhất tiêu chí cảnh báo ô nhiễm nặng, phối hợp kiểm soát khí thải phương tiện và triển khai các chiến dịch kiểm soát ô nhiễm theo mùa. Kết quả, nồng độ PM2.5 của vùng Bắc Kinh - Thiên Tân - Hà Bắc năm 2025 giảm hơn 60% so với năm 2013.
Kinh nghiệm này cho thấy kiểm soát ô nhiễm không khí cần sự kết hợp giữa kiểm soát nguồn phát thải, quản lý dựa trên dữ liệu, cơ chế phối hợp vùng và duy trì hành động trong thời gian dài. Đây cũng là những vấn đề có nhiều điểm tương đồng với yêu cầu đang đặt ra đối với Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, nơi nguồn phát thải, hoạt động kinh tế và sự vận chuyển các chất ô nhiễm có mối liên hệ vượt ra ngoài ranh giới của từng địa phương.

Các đại biểu chụp ảnh kỷ niệm tại Hội thảo
Từ các tham luận trong nước và quốc tế có thể thấy, điểm gặp nhau của các cách tiếp cận là yêu cầu chuyển từ quản lý riêng lẻ từng nguồn, từng ngành và từng địa phương sang quản trị chất lượng không khí dựa trên dữ liệu, phối hợp đa ngành và liên vùng. Quan trắc và kiểm kê phát thải giúp nhận diện đúng nguồn ô nhiễm; dữ liệu sức khỏe cho thấy mức độ và đối tượng chịu tác động; trong khi cơ chế phối hợp là điều kiện để biến những thông tin đó thành các biện pháp kiểm soát cụ thể. Đây là nền tảng để các mục tiêu về chất lượng không khí được chuyển hóa thành kết quả có thể đo lường và những cải thiện thực chất đối với sức khỏe cộng đồng.
TIN LIÊN QUAN
- Kiểm soát ô nhiễm không khí: Giảm phát thải phải gắn với bảo vệ sức khỏe
- Lễ phát động hưởng ứng Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn năm 2026: Chung tay giảm lãng phí thực phẩm, quản lý chất thải hiệu quả
- Ô nhiễm không khí: Nhận diện nguồn để kiểm soát hiệu quả
- Suy thoái đất vùng núi: Thách thức đối với hệ sinh thái và an ninh môi trường
- Hội nghị các Bên tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống sa mạc hóa: Phục hồi đất đai, củng cố khả năng chống chịu trước hạn hán
- Kinh nghiệm thực thi chính sách về chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái tại Hải Phòng
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm việc với Thành phố Hồ Chí Minh về công tác bảo vệ môi trường
- Tỉnh Quảng Ninh tăng cường công tác quản lý, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
- Kế hoạch quan trắc, cảnh báo môi trường trong nuôi trồng thủy sản trên địa bàn TP. Cần Thơ giai đoạn 2026-2030
- Hải Phòng khuyến cáo nông dân phun thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, cân đối để bảo vệ môi trường