Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đa dạng sinh học tại Sơn La

Tin tức - Sự kiện 21/12/2023

Đoàn kiểm tra của Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học (Bộ Tài nguyên và Môi trường) vừa kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha và Tà Xùa, tỉnh Sơn La.

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Xuân Nha có tổng diện tích trên 18.000ha, thuộc các xã Tân Xuân, Xuân Nha, Chiềng Xuân huyện Vân Hồ và xã Chiềng Sơn huyện Mộc Châu. KBT có địa hình núi đá vôi xen đồi núi đất. Khu hệ sinh thái rừng kín thường xanh núi cao, có giá trị bảo tồn cao với nhiều loài động, thực vật quý, hiếm. Khu vực này có sự đa dạng về các hệ sinh thái, sinh cảnh với nhiều kiểu rừng, rất có giá trị về bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu khoa học.
Ban quản lý KBT đã ban hành Quy chế, kế hoạch quản lý, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên Khu dự trữ thiên nhiên Xuân Nha. Thực hiện khoanh nuôi tái sinh, trồng bổ sung diện tích rừng đặc dụng; hỗ trợ phát triển cộng đồng dân cư vùng đệm KBT; đang xây dựng khu lưu giữ, sưu tập động, thực vật. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến quy định pháp luật về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường đến cộng đồng dân cư đang sinh sống trong và gần vùng quy hoạch KBT.

Với sự đa dạng hệ sinh thái, sinh cảnh, KBTTN Xuân Nha rất có giá trị về bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu khoa học.
KBTTN Tà Xùa có tổng diện tích trên 16.600ha, thuộc địa phận xã Háng Đồng huyện Bắc Yên và Suối Tọ, Mường Thải huyện Phù Yên; trong đó, hơn 15.000ha là diện tích rừng thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt. Tại đây có nhiều sinh cảnh độc đáo, lưu trữ nhiều loài động thực vật quý hiếm. Các hệ sinh thái đa dạng với nhiều kiểu rừng có giá trị cao về bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu khoa học, sinh cảnh sống cho các loài động, thực vật hoang dã sinh trưởng, phát triển.
Ban quản lý KBT đã ban hành Quy chế, kế hoạch quản lý, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên Khu dự trữ thiên nhiên Tà Xùa. Thực hiện quản lý bảo tồn tại chỗ, bảo vệ nguyên vẹn hiện trạng tài nguyên rừng tại các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái; giao khoán quản lý bảo vệ rừng từ nguồn chi trả DVMTR. Đã ứng dụng công nghệ viễn thám GIS, công nghệ thông tin trong điều tra, quản lý tài nguyên rừng để đánh giá diễn biến rừng.
Thường xuyên phối hợp với Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng, Hạt kiểm lâm các huyện tăng cường tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, kịp thời xử lý vi phạm. Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để người dân, cộng đồng, tổ chức nâng cao nhận thức về quản lý, bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, tại 2 khu bảo tồn, đều chưa lập báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học theo quy định; chưa đủ nguồn lực để quan trắc chất lượng môi trường, đa dạng sinh học, xây dựng cơ sở dữ liệu và các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ khác; chưa tiến hành cắm mốc ranh giới các phân khu chức năng trên thực địa…
Tại 2 KBT, Đoàn kiểm tra đã hướng dẫn, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật, những quy định mới về quản lý, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học. Nắm bắt thông tin phản hồi về những tồn tại, bất cập trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên; đề xuát các kiến nghị nhằm tăng cường thực thi hiệu quả chính sách, pháp luật về đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường tại 2 KBT thời gian tới.
Trên cơ sở kết quả kiểm tra, UBND tỉnh Sơn La đã giao Tổ chức quản lý các KBTTN rà soát quyết định thành lập KBT, trường hợp chưa có Quyết định thành lập, có văn bản báo cáo cơ quan chủ quản để báo cáo UBND tỉnh. Lập báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật Đa dạng sinh học. Tổ chức điều tra, đánh giá, lập danh mục di sản thiên nhiên theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 21 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ. Báo cáo kết quả về Sở Tài nguyên và Môi trường để theo dõi, cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Thực hiện trách nhiệm của tổ chức khu bảo tồn quy định tại Điều 29 Luật Đa dạng sinh học và quy định về quản lý, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên quy định tại điểm b khoản 6, khoản 7 Điều 21 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ.
Triển khai thực hiện quy chế, kế hoạch quản lý, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên đã được UBND tỉnh phê duyệt. Định kỳ báo cáo kết quả thực hiện về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường vào ngày 20/6 và 20/12 hàng năm để tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh.
Giao Sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu cập nhật kết quả điều tra, đánh giá, lập danh mục di sản thiên nhiên vào cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, UBND các huyện, thành phố có liên quan tổ chức điều tra, xác định khu vực phân bố, lập kế hoạch cô lập, diệt trừ loài thuộc Danh mục loài ngoại lai xâm hại tại địa phương theo quy định tại khoản 2 Điều 53 Luật Đa dạng sinh học./.