Hội nghị Môi trường toàn quốc lần 5: Kết quả đạt được của công tác BVMT giai đoạn 2016-2022

Tin tức - Sự kiện 20/02/2023

Tiếp nối thành công của Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 4, được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, Bộ TN&MT đã tổ chức Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 5 vào ngày 04/8/2022 và các sự kiện liên quan nhằm tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được trong công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2016 - 2022, xác định những vấn đề còn tồn tại, khó khăn và vướng mắc, đề ra phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm cho công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn tới.

Theo đó, một số kết quả công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2016 – 2022 đã đạt được như sau:

- Hệ thống pháp luật về BVMT đã có những bước phát triển đột phá. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ TN&MT, các Bộ, ngành, địa phương tập trung cao độ mọi nguồn lực để nỗ lực xây dựng, trình ban hành Luật BVMT năm 2020 và các văn bản quy định chi tiết Luật BVMT năm 2020.

- Có bước chuyển biến tích cực về nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật về môi trường của cộng đồng, doanh nghiệp. Nhiều hoạt động, phong trào tuyên truyền, giáo dục được tổ chức, phát động đã đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về tầm quan trọng của môi trường sống và nhiệm vụ BVMT của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình. Bên cạnh đó, ý thức chấp hành các quy định pháp luật về BVMT của các doanh nghiệp cũng có nhiều chuyển biến tích cực, dần chuyển từ thái độ đối phó với các cơ quan chức năng sang ý thức tự giác chấp hành.

- Đã chủ động kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải lớn (KCN, CCN, làng nghề, dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lớn,…). Duy trì phương thức phối kết hợp giữa Trung ương, địa phương trong kiểm soát, giám sát, giải quyết các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, các vấn đề môi trường phát sinh. Hoạt động đầu tư lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, liên tục truyền số liệu trực tiếp về cơ quan quản lý nhà nước về BVMT đã được các địa phương, tổ chức quan tâm, đầu tư mạnh mẽ. Đã xuất hiện nhiều mô hình đô thị, nông thôn, KCN, làng nghề, cơ sở sản xuất sinh thái, thân thiện với môi trường. Tỷ lệ KCN đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, tỷ lệ KCN đã đầu tư lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải tự động, tỷ lệ cơ sở ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg được xử lý triệt để và tỷ lệ xã đạt tiêu chí về môi trường và an toàn thực phẩm đều tăng so với giai đoạn trước.

- Triển khai nhiều giải pháp đồng bộ về quản lý chất thải, từng bước thực hiện tái chế, tái sử dụng rác thải thay cho chôn lấp, giảm thiểu rác thải nhựa. Tỷ lệ CTRSH được thu gom, tái chế liên tục tăng, tỷ lệ phải chôn lấp giảm. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn công nghiệp; tỷ lệ thu gom, xử lý CTNH đều tăng so với giai đoạn trước. Đối với một số loại CTR đặc thù như tro xỉ, thạch cao, việc đảm bảo yêu cầu môi trường khi thực hiện tái chế đã được quan tâm triển khai. Cùng với việc hoàn thiện hành lang pháp lý, Nhà nước đã có nhiều biện pháp kiểm soát, ngăn chặn việc “lợi dụng" chính sách về nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất để đưa rác thải vào nước ta.

- Chất lượng môi trường (đất, nước, không khí…) được cải thiện. Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 cho thấy ô nhiễm môi trường ở nước ta vẫn xảy ra nhưng xu hướng tăng mạnh như trước đây đã được ngăn chặn, mức độ ô nhiễm môi trường ở nhiều nơi không tăng hoặc tăng không đáng kể, chất lượng môi trường có nơi, có lúc đã được cải thiện; một số dự báo tác động xấu tới môi trường từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đã được ngăn ngừa có hiệu quả.

Chất lượng không khí ở một số tỉnh, thành phố đã được cải thiện, mức độ ô nhiễm tại một số thành phố có xu hướng giảm. Ô nhiễm bụi, không khí chủ yếu chỉ tập trung chủ yếu tại một số khu vực đô thị lớn, khu vực tập trung hoạt động sản xuất công nghiệp, trục giao thông chính, công trường xây dựng.

Chất lượng nước mặt tại các lưu vực sông chính còn tương đối tốt ở khu vực thượng nguồn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Ô nhiễm nước mặt tại các lưu vực sông chỉ xuất hiện chủ yếu ở các khu vực hạ lưu, nơi đi qua các đô thị lớn, khu vực có hoạt động sản xuất công nghiệp phát triển, làng nghề, khu vực khai thác khoáng sản. Nhiều dòng sông trong nội thành, nội thị, mức độ ô nhiễm đã giảm; chất lượng nước ven bờ, nước dưới đất nhìn chung được kiểm soát tốt. Chất lượng nước biển ven bờ của nước ta về cơ bản vẫn còn tốt.

Chất lượng môi trường đất được đánh giá còn tương đối tốt và đáp ứng được các mục đích sử dụng khác nhau. Hiện trạng tồn lưu chất độc hóa học/dioxin tại các vùng đất bị ảnh hưởng nặng nề cơ bản đều đã về ngưỡng an toàn.

- Công tác bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, mở rộng diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên, di sản thiên nhiên được đẩy mạnh; đã chủ động kiểm soát được tác động tiêu cực của các dự án, hoạt động kinh tế tới thiên nhiên, đa dạng sinh học. Số lượng các khu bảo tồn, khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế ở nước ta tiếp tục gia tăng. Quy trình kiểm dịch động, thực vật nhập khẩu được kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn ngừa các loài ngoại lai xâm hại.

Nhìn chung, thông qua việc triển khai nhiều công cụ, biện pháp quản lý đồng bộ, công tác BVMT trong giai đoạn vừa qua tiếp tục đạt được nhiều kết quả tích cực. Xu hướng suy giảm nhanh chất lượng môi trường đã được ngăn chặn.

Mặc dù hoạt động kiểm soát nguồn ô nhiễm, quản lý CTR và CTNH đã được thực hiện chặt chẽ, công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học được tăng cường, mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần tập trung giải quyết, xử lý sau:

- Công nghệ sản xuất trong các cơ sở sản xuất nhìn chung còn lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng, nước, sử dụng tài nguyên kém hiệu quả.

- Ô nhiễm không khí vẫn còn diễn biến phức tạp, nhất là ô nhiễm bụi mịn tại các Tp lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh tại một số thời điểm trong ngày và một số ngày trong năm, nhất là khi có sự kết hợp giữa các yếu tố khí tượng, khí hậu, hiện tượng thời tiết sương mù với sự gia tăng các nguồn phát thải ô nhiễm không khí. Chỉ số chất lượng không khí (AQI) có thời điểm vượt ngưỡng an toàn, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người dân.

- Nước thải sinh hoạt, nước thải từ các làng nghề phát sinh ngày càng lớn trong khi hạ tầng thu gom, xử lý chưa đáp ứng yêu cầu. Cả nước mới có 162/735 CCN (đạt tỷ lệ 22%) đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, hầu hết các khu dân cư nông thôn chưa có hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung.

- Lượng CTR, CTNH phát sinh ngày càng lớn, cơ cấu thành phần phức tạp, trong khi đó, công tác quản lý rác thải sinh hoạt còn nhiều hạn chế. Nhiều loại chất thải công nghiệp, hóa chất nguy hại, bao bì thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu, chất thải y tế nguy hại, v.v chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu. Việc nhập khẩu các công nghệ cũ, chất thải dưới nhiều hình thức vẫn chưa được kiểm soát, ngăn chặn triệt để.

- Đa dạng sinh học vẫn có xu hướng bị suy giảm, cân bằng sinh thái có nguy cơ bị ảnh hưởng. Các hệ sinh thái tự nhiên bị thu hẹp diện tích, chia cắt, suy giảm chất lượng. Rừng nguyên sinh chỉ còn rất ít, bị chia cắt và cô lập thành những khu nhỏ, phân bố rải rác ở một số khu vực như Tây Nguyên, Tây Bắc nên khó có cơ hội phục hồi hoàn toàn.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các mục tiêu BVMT hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, trong giai đoạn 2022 – 2025, cần tập trung thực hiện một số hoạt động chính như sau:

Một là, tập trung xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật BVMT; hướng tới đề xuất sửa đổi Luật Đa dạng sinh học.

Hai là, tăng cường năng lực tổ chức thực hiện công tác BVMT.

Ba là, chủ động phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn các tác động xấu lên môi trường, các sự cố môi trường.

Bốn là, quản lý CTR, trọng tâm là quản lý tốt CTR sinh hoạt, chất thải nhựa, chất thải nguy hại.

Năm là, khắc phục ô nhiễm, suy thoái môi trường; duy trì, cải thiện chất lượng môi trường.

Sáu là, đẩy mạnh công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Bảy là, ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường.

Tám là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, thúc đẩy các mô hình, điển hình về BVMT./.

Một số hình ảnh tại Hội nghị:

 

(VEA)