Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 5: Nhận diện thời cơ, thách thức trong công tác BVMT

Tin tức - Sự kiện 20/02/2023

Đó là Chủ đề Bài báo cáo do Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân trình bày tại Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ 5 diễn ra vào ngày 04/8/2022. Theo đó, Báo cáo đã thẳng thắn chỉ ra những nguy cơ và thách thức, phân tích những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, từ đó đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể cho công tác bảo vệ môi trường giai đoạn tiếp theo.

 

Trong giai đoạn 2016 – 2021, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta vẫn còn đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức, như: (1) Tốc độ ô nhiễm, suy thoái môi trường, suy giảm tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học mặc dù đã được kiểm soát song vẫn diễn biến phức tạp, một số nơi, khu vực vẫn ở mức đáng báo động; đặc biệt nổi lên là ô nhiễm tại một số LVS, làng nghề, ô nhiễm không khí tại một số thành phố lớn. (2) Hạ tầng cho công tác BVMT mặc dù đã được đầu tư, song vẫn còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. (3) Khối lượng CTR, CTNH phát sinh ngày càng lớn, cơ cấu thành phần phức tạp, trong khi đó, công tác quản lý còn nhiều hạn chế.

Bên cạnh các nguy cơ nội tại nêu trên, công tác BVMT còn đứng trước những thách thức lớn do tác động của đại dịch Covid-19 ảnh hưởng đến khả năng đầu tư và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Các nguy cơ ô nhiễm xuyên biên giới, ô nhiễm theo dòng chảy, công nghệ lạc hậu sang Việt Nam đặt ra yêu cầu khách quan phải hội nhập về môi trường, tiếp cận quản lý môi trường ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và tiệm cận với các nước phát triển trên thế giới. Cùng với đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta. Điều này vừa là thuận lợi cho công tác quản lý, đồng thời cũng đặt ra những thách thức, áp lực không nhỏ về yêu cầu hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và BVMT, giữ gìn thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.

Những nguy cơ, thách thức nói trên xuất phát từ những nguyên nhân khách quan như: công tác BVMT vẫn chịu áp lực lớn từ các hoạt động đầu tư phát triển, công nghệ sản xuất của nước ta nhìn chung còn lạc hậu, nhiều vấn đề môi trường tích tụ từ lâu chưa được giải quyết triệt để, tác động của biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng... Tuy nhiên, phải kể đến những nguyên nhân chủ quan như: Nhận thức của một số cấp ủy đảng, chính quyền, người dân và doanh nghiệp về BVMT chưa đầy đủ, chưa chuyển thành ý thức và hành động; vẫn còn tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường; nguồn nhân lực tại các cơ quan quản lý nhà nước về BVMT chưa tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt tại cấp địa phương, cơ sở. Nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước cho BVMT còn hạn chế; việc huy động các nguồn lực trong xã hội chưa nhiều. Cơ sở hạ tầng, công nghệ xử lý môi trường chưa theo kịp yêu cầu của công tác BVMT.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, thực hiện có hiệu quả các mục tiêu bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, trong giai đoạn 2022 – 2025, cần tiếp tục tập trung thực hiện 06 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như sau:

Một là, tổ chức triển khai có hiệu quả Luật BVMT 2020, nắm bắt các khó khăn, vướng mắc của địa phương người dân và doanh nghiệp để có hướng dẫn kịp thời.

Hai là, tăng cường, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động đánh giá môi trường chiến lược với các chiến lược, quy hoạch, đánh giá tác động đối với các dự án đầu tư phát triển, trọng tâm là triển khai đồng bộ, hiệu quả các chế định mới của Luật nhằm sàng lọc dự án đầu tư và chủ động phòng ngừa, kiểm soát, giảm thiểu nguy cơ xảy ra ô nhiễm, đặc biệt các dự án có yếu tố nhạy cảm liên quan đến bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, chuyển đổi đất rừng; thiết lập cơ chế công khai nội dung báo cáo ĐTM để tham vấn rộng rãi ý kiến của các cá nhân, tổ chức trong quá trình thẩm định báo cáo ĐTM; xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về áp dụng, công nhận kỹ thuật hiện có tốt nhất đối với một số loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Ba là, tăng cường giám sát, kiểm soát các nguồn thải từ các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ thông qua duy trì, tăng cường hiệu quả mô hình tổ giám sát “04 bên"; Kiểm soát, giám sát chặt chẽ khu vực tập trung nhiều nguồn thải tại các KCN, CCN, làng nghề, lưu vực sông…; Triển khai kế hoạch giám sát, xử lý khu vực, điểm nóng về môi trường. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra chấp hành pháp luật về BVMT, đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường. Duy trì và tăng cường hiệu quả Đường dây nóng tiếp nhận và xử lý thông tin phản ánh, kiến nghị của tổ chức và cá nhân về ô nhiễm môi trường của trung ương và địa phương.

Lập và thực hiện kế hoạch ứng phó sự cố môi trường các cấp và tại các cơ sở có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường. Quan trắc, theo dõi, chủ động phòng ngừa, ứng phó các sự cố ô nhiễm môi trường.

Bốn là, quản lý chất thải rắn, trọng tâm là quản lý tốt chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nhựa.

Năm là, Quản lý chất lượng môi trường, cải tạo, phục hồi môi trường.

Sáu là, đẩy mạnh công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

Một số hình ảnh của Hội nghị

(VE​A)