Trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu trong Luật BVMT 2020

Tin tức - Sự kiện 20/02/2023

Trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tuy không mới ở nước ta nhưng chưa được triển khai một cách bắt buộc do nhiều nguyên nhân khác nhau. Luật BVMT 2020 đã quy định các cơ chế bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm này một cách bắt buộc tại Điều 54, Điều 55. Theo đó, việc quy định trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu nhằm áp dụng cơ chế “trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất- extended producer responsibility - EPR", một cơ chế đã được áp dụng rộng rãi và thành công ở nhiều nước trên thế giới từ những năm 1990, để thu hồi sản phẩm, bao bì sau sử dụng để tái chế, xử lý một cách hiệu quả nhất, giúp đạt được mục tiêu kép là bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

Trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tuy không mới ở nước ta nhưng chưa được triển khai một cách bắt buộc do nhiều nguyên nhân khác nhau. Luật BVMT 2020 đã quy định các cơ chế bảo đảm việc thực hiện trách nhiệm này một cách bắt buộc tại Điều 54, Điều 55.

Theo đó, việc quy định trách nhiệm tái chế, xử lý sản phẩm, bao bì thải bỏ của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu nhằm áp dụng cơ chế “trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất- extended producer responsibility - EPR", một cơ chế đã được áp dụng rộng rãi và thành công ở nhiều nước trên thế giới từ những năm 1990, để thu hồi sản phẩm, bao bì sau sử dụng để tái chế, xử lý một cách hiệu quả nhất, giúp đạt được mục tiêu kép là bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế.

EPR là yếu tố quan trọng hàng đầu trong mô hình kinh tế tuần hoàn


EPR đã được quy định tại Luật BVMT 2005 (Điều 67. Thu hồi, xử lý sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ) và Luật BVMT 2014 (Điều 87. Thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ), các văn bản quy định chi tiết chỉ dừng lại ở việc xác định các sản phẩm, bao bì thải bỏ phải được thu gom, tái chế, xử lý; quy định trách nhiệm của nhà sản xuất trong thiết lập các điểm thu gom, trách nhiệm của người tiêu dùng sau khi thải bỏ mà chưa quy định tỷ lệ bắt buộc phải thu gom để tái chế và quy cách tái chế cũng như chưa đưa ra được một cơ chế vận hành hệ thống một cách hiệu quả, thông suốt. Luật BVMT 2020 đã khắc phục về cơ bản các bất cập nêu trên với việc quy định tại Điều 54: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế phải thực hiện tái chế theo tỷ lệ và quy cách tái chế bắt buộc" và Điều 55: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu sản phẩm, bao bì chứa chất độc hại, khó có khả năng tái chế hoặc gây khó khăn cho thu gom, xử lý phải đóng góp tài chính" để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Như vậy, nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì có giá trị tái chế thì phải có trách nhiệm thu gom để tái chế các sản phẩm, bao bì đó (sau sử dụng) theo tỷ lệ tái chế bắt buộc và quy cách tái chế bắt buộc; nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì khó có khả năng tái chế thì phải đóng tiền vào Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam để hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Có thể thấy, mục tiêu của EPR là tác động làm thay đổi thói quen của nhà sản xuất, nhà nhâp trong sử dụng nguyên liệu và thiết kế sản phẩm để có thể giảm dần và tối ưu hóa chi phí thu gom cũng như tái chế sản phẩm, bao bì sau sử dụng. Như vậy, nhà sản xuất phải sản xuất hàng hóa, bao bì và sử dụng bao bì sao cho giảm thiểu việc tạo ra chất thải, bảo đảm việc dễ dàng trong thu gom và xử lý hoặc thay thế nguyên liệu sản xuất để sản phẩm của họ không còn thuộc diện phải thu gom, tái chế hoặc xử lý theo quy định của Luật. Đây là hoạt động quan trọng nhất để thực hiện các quy định về EPR.

EPR còn là công cụ tài chính nhằm tác động đến hành vi sản xuất như nêu ở trên, thì EPR còn tạo ra một lượng tài chính ổn định và đầy đủ để thực hiện việc tái chế sản phẩm, bao bì nhằm nâng cao dần tỷ lệ tái chế để thực hiện được mục tiêu tái chế quốc gia đặt ra trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch xử lý chất thải rắn ở nước ta.

Bên cạnh đó, EPR còn đem lại lợi ích về bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế, giải quyết được các vấn đề xã hội, bao gồm:

Thứ nhất, khi thực hiện EPR nhà sản xuất, nhà nhập khẩu sẽ nâng cao được hình ảnh thương hiệu của mình thông qua việc thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với cộng đồng, xã hội. Doanh nghiệp sẽ thực hiện nghiêm túc không chỉ các quy định của pháp luật Việt Nam mà thực hiện một cách thiện chí các cam kết quốc tế về nâng cao biểu hiện môi trường cũng như nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA.

Khi thực hiện EPR, nhà sản xuất sẽ thay đổi thiết kế, nguyên liệu, công nghệ sản xuất để sản xuất ra sản phẩm, bao bì dễ thu gom, tái chế, giảm thiểu chi phí thu gom, tái chế. Do vậy, sản phẩm làm ra thân thiện với môi trường, đáp ứng được thị hiếu và xu hướng đòi hỏi của người tiêu dùng, từ đó sản phẩm có sức hấp dẫn hơn, có khả năng cạnh tranh tốt hơn.

Thứ hai, EPR giúp tăng tỷ lệ tái chế, từ đó các vật liệu gây hại cho môi trường trong quá trình tiêu dùng được quay vòng trong chu trình sản xuất, tiêu dùng, thu gom, tái chế hoặc chuyển đổi các vật liệu này sang các dạng khác có vòng đời dài hơn; do đó sẽ giảm thiểu sự tồn tại của các vật liệu này trong môi trường sống, giảm được tác động tiêu cực của các vật liệu này lên môi trường, các loài động thực vật và hệ sinh thái….

Thứ ba, EPR là yếu tố quan trọng hàng đầu trong mô hình kinh tế tuần hoàn, một mô hình kinh tế bảo đảm sự phát triển bền vững và tối ưu được các lợi thế cũng như sự tác động, hỗ trợ qua lại lẫn nhau của các yếu tố trong nền kinh tế. Thông qua việc xây dựng cơ chế tham gia cho các doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị của các sản phẩm, bao bì thuộc diện phải thu hồi, tái chế mà các lợi ích của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu, nhà tái chế được tối ưu hóa. Cải thiện kinh doanh và thu hút đầu tư để phát triển hơn nữa lĩnh vực tái chế và xử lý chất thải. Góp phần tạo ra việc làm và việc làm chất lượng cao trên bình diện thu nhập, trình độ và điều kiện làm việc. Giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu thô và nâng cao sức cạnh tranh của nguyên liệu thứ cấp. Hỗ trợ du lịch thông qua môi trường trong sạch hơn.

Thứ tư, EPR góp phần cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng về cách phân loại, xử lý chất thải tại nhà; mang lại cho các gia đình một môi trường có lợi cho sức khỏe; nâng cao năng lực sản xuất, BVMT của đội ngũ thu gom, tái chế phi chính thức (hệ thống đồng nát, làng nghề); tăng cường tương tác giữa những các bên cung cấp nguyên liệu, thiết kế và sản xuất bao bì, kinh doanh hàng tiêu dùng, bán lẻ và xử lý chất thải; góp phần giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp khi tạo ra các công việc mới.

Sản phẩm thải bỏ nếu được tái chế sẽ đem lại lợi ích cho doanh nghiệp và góp phần bảo vệ môi trường


Có thể thấy, EPR là công cụ đa tác động, một mặt làm thay đổi thói quen sản xuất sản phẩm, bao bì để giảm chi phí thu gom, tái chế, xử lý mặt khác là công cụ tài chính hiệu quả để đẩy mạnh việc thu gom, tái chế, hạn chế tối đa sự thất thoát sản phẩm, hàng hóa ra môi trường, góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường. Do vậy, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu cần hiểu rõ chính sách EPR để tự điều chỉnh quá trình sản xuất như thiết kế lại sản phẩm, thay đổi nguyên vật liệu sản xuất theo hướng có thân thiện với môi trường, giảm bớt việc sử dụng bao bì khi đưa sản phẩm ra thị trường ….

(VEA)