Luật BVMT 2020: Cụ thể hóa nội hàm của phân vùng môi trường

Tin tức - Sự kiện 20/02/2023

 

Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện chính sách hội nhập quốc tế, kinh tế- xã hội ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, sự phát triển nóng về kinh tế đã làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, các tranh chấp, xung đột môi trường, các trường hợp vi phạm gây thiệt hại môi trường vẫn xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước... Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là các yêu cầu bảo vệ môi trường (BVMT) chưa được lồng ghép đầy đủ vào các quy hoạch phát triển. Bên cạnh đó, hiện nay trong các Luật và các văn bản dưới Luật chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nào cho việc lập quy hoạch BVMT, đặc biệt là nội dung phân vùng môi trường.

Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14, Luật sửa đổi, bổ sung 37 Luật có liên quan đến quy hoạch, Nghị định số 37/2019/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy hoạch đã có quy định các nội dung cơ bản về quy hoạch BVMT, đưa ra định hướng phân vùng môi trường. Tại khoản 3 Điều 25 Nghị định 37/2019/NĐ-CP đã quy định các mục định hướng về phân vùng môi trường trên phạm vi cả nước theo vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế phát thải và vùng khác. Tuy vậy, nội hàm cụ thể của phân vùng môi trường chưa được quy định. Đây là lý do mà các quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường đã được đưa ra từ năm 2014 nhưng vẫn chưa thực hiện được.

Tại Việt Nam, trong một số quy hoạch của các tỉnh, thành phố cũng đề cập đến phân vùng, tuy nhiên, đa phần phân vùng phát triển chưa tính đầy đủ các yếu tố về môi trường, ví dụ, Thành phố Hồ Chí Minh phân vùng phát triển gồm vùng phát triển đô thị, vùng phát triển công nghiệp, vùng sinh thái, du lịch; vùng nông nghiệp kết hợp vành đai sinh thái; khu dân cư nông thôn và vùng bảo tồn thiên nhiên được bảo vệ nghiêm ngặt[1]; thành phố Đà Nẵng Định hướng phát triển không gian lãnh thổ với định hướng phân bố sản xuất công nghiệp; nông nghiệp; phát triển đô thị; sử dụng quỹ đất[2]. Cũng đã có thành phố đề cập đến phân vùng kiểm soát môi trường trong quy hoạch chung như Hà Nội phân vùng môi trường thành vùng bảo tồn hạn chế phát triển; vùng kiểm soát chất lượng môi trường tại khu vực đô thị trung tâm mới phát triển; kiểm soát môi trường đô thị và khu công nghiệp khu vực đô thị lõi mở rộng; vùng phòng hộ môi trường; vùng bảo vệ nghiêm ngặt hệ sinh thái rừng đặc dụng, đất ngập nước; vùng kiểm soát môi trường nông thôn, làng nghề[3]. Đặc điểm chung của các quy hoạch, phân vùng này là dựa trên cơ sở hiện hữu để thực hiện phân vùng tập trung và đưa ra các quy hoạch mở đối với các khu vực mới thiết lập.

 


 

Hiện nay, trong một số quy hoạch của các tỉnh, thành phố cũng đề cập đến phân vùng, tuy nhiên, đa phần phân vùng phát triển chưa tính đầy đủ các yếu tố về môi trường


Việc không làm tốt công tác phân vùng môi trường trong thời gian qua dẫn đến tình trạng có nhiều dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nằm xen kẽ trong các khu dân cư, khi các cơ sở này không thực hiện tốt các biện pháp BVMT, gây ô nhiễm môi trường tạo nên những xung đột môi trường, kiện cáo kéo dài, tiềm ẩn những bất ổn của xã hội. Bên cạnh đó, việc không thực hiện phân vùng môi trường gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc xác định địa điểm đầu tư của các dự án có phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường tại khu vực đầu tư.

Luật BVMT 2020 đã quy định quy hoạch BVMT quốc gia là một trong các bước, công cụ quản lý môi trường bên cạnh các công cụ khác như chiến lược BVMT quốc gia, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá sơ bộ tác động môi trường, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, đăng ký môi trường, v.v. Về nội hàm, Luật BVMT 2020 quy định Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia là việc sắp xếp, định hướng phân bố không gian phân vùng quản lý chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, quản lý chất thải, quan trắc và cảnh báo môi trường trên lãnh thổ xác định để bảo vệ môi trường, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững đất nước cho thời kỳ xác định.

Luật BVMT 2020 đã đồng bộ nội dung quy hoạch BVMT, phân vùng môi trường với các nguyên tắc chung của pháp luật về quy hoạch; nội dung Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia; việc lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, thời kỳ Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch. Căn cứ lập Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về quy hoạch và các căn cứ vào chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia trong cùng giai đoạn phát triển; kịch bản biến đổi khí hậu trong cùng giai đoạn phát triển. Luật đã giao Chính phủ quy định việc xác định phân vùng môi trường trong Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia. Luật cũng quy định nội dung bảo vệ môi trường trong quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh phải phù hợp với quy định của pháp luật về quy hoạch và giao Chính phủ quy định việc xác định phân vùng môi trường trong quy hoạch tỉnh.

Luật đã quy định cụ thể về quy hoạch môi trường, đặc biệt, tập trung xây dựng công cụ về phân vùng môi trường trong quy hoạch. Phân vùng môi trường được tiến hành dựa vào các tư liệu về các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các hoạt động kinh tế, xã hội và các tài liệu liên quan khác nhằm đưa ra một bức tranh toàn cảnh về sự phân hóa của lãnh thổ, chỉ ra các phân khu môi trường, phục vụ lập quy hoạch BVMT và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung. Phân vùng môi trường được thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá lãnh thổ một cách khách quan cho mục đích quy hoạch, lập kế hoạch quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên, BVMT, tạo dựng cơ sở khoa học điều hòa sự phát triển kinh tế- xã hội trong khả năng chịu tải của các hệ tự nhiên.

 

Phân vùng môi trường trong quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh sẽ giúp định hướng triển khai các hoạt động phát triển, phù hợp với yêu cầu BVMT 


Với các nội dung đó, việc thực hiện tốt quy hoạch môi trường sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đổi mới công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường. Các doanh nghiệp đầu tư mới sẽ tiết kiệm thời gian, công sức để xác định vị trí dự án; tránh rủi ro trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự án hoặc phải di dời dự án khi đã đi vào hoạt động; giảm thiệt hại do phải đền bù thiệt hại cho các cộng đồng dân cư hoặc các đối tượng bị thiệt hại trong quá trình triển khai dự án và gây ra sự cố môi trường trong khu vực nơi môi trường - xã hội có mức độ nhạy cảm cao.

Việc làm tốt quy hoạch môi trường sẽ giúp cơ quan nhà nước nâng cao uy tín Nhà nước trong kiểm soát các hoạt động BVMT: giải quyết nhanh, gọn các thủ tục hành chính, xác định rõ các địa điểm thực hiện dự án đầu tư; hạn chế các rủi ro tiềm tàng trong quá trình cho phép thực hiện dự án đầu tư; giữ bình ổn xã hội, không gây xáo trộn đối với các doanh nghiệp hiện hữu tại các khu vực nhạy cảm; không mất các chi phí, quỹ đất hỗ trợ di dời các cơ sở hiện hữu ra khỏi nội thành, nội thị, khu vực đông dân cư.

Việc xác lập các vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế phát thải trong quy hoạch môi trường sẽ đem lại hiệu quả cao hơn trong quản lý môi trường. Các khu vực có chất lượng môi trường không tốt sẽ được tập trung các hoạt động để cải thiện môi trường. Các khu vực có chất lượng tốt sẽ có những yêu cầu nghiêm ngặt hơn để duy trì ổn định và cải thiện hơn chất lượng môi trường. Trên cơ sở xác lập các vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế phát thải, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được sắp xếp, bố trí phù hợp tại các vùng môi trường tương ứng, bảo đảm tận dụng tối đa các ưu thế về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, giúp tăng cường khả năng tuần hoàn, quay vòng xử lý chất thải tại các dự án có tính chất tương hỗ, liên kết với nhau.

Có thể thấy, quy hoạch bảo vệ môi trường là một trong các công cụ quản lý môi trường quan trọng, có sự gắn kết chặt chẽ với các công cụ khác như chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá sơ bộ tác động môi trường, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, đăng ký môi trường,... Việc xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường cần phải có sự gắn bó hữu cơ với các chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường như các chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia trong cùng giai đoạn phát triển; kịch bản biến đổi khí hậu trong cùng giai đoạn phát triển.

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

[1] Quyết định 1340/QĐ-UBND năm 2014 về Quy định quản lý quy hoạch chung đô thị theo đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

[2] Nghị quyết 163/NQ-HĐND năm 2018 về thông qua điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

[3] Quyết định 1259/QĐ-TTg năm 2011 phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 do Thủ tướng Chính phủ ban hành

(VEA)