Cần tiếp tục có những hành động chiến lược để bảo tồn đa dạng sinh học
Tin tức - Sự kiện 17/02/2023
Đạt một số kết quả trong triển khai Chiến lược 2020
Sau gần 8 năm thực hiện Chiến lược 2020, công tác bảo tồn đa dạng sinh học đã đạt được một số kết quả. Hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên và khu vực có danh hiệu quốc tế được củng cố và mở rộng, nâng tổng số khu bảo tồn hiện c lên 176 khu với tổng diện tích 2.512.530,78 ha. Đã thành lập 03 hành lang đa dạng sinh học kết nối các khu bảo tồn tại các tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị với tổng diện tích 521.878,28 ha. Các hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái đã được chú trọng phục hồi.
Việc bảo vệ các loài hoang dã và giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm đã đạt được một số kết quả tích cực: nhiều quần thể loài quý, hiếm đã được phát hiện trong tự nhiên; phục hồi và phát triển các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng; một số loài có giá trị kinh tế đã được nghiên cứu, gây nuôi phát triển thành sản phẩm thương mại như sâm ngọc linh (Panax vietnamensis), cá anh vũ (Semilabeo obscurus), cá hô (Catlocarpio siamensis), cá lăng (Hemibagrus guttatus), cá chiên (Bagarius rutilus), cá ngựa thân trắng (Hippocampus kellogi)...
Việc bảo tồn nguồn gen tiếp tục được chú trọng, số lượng nguồn gen cây trồng, vật nuôi, thủy sản và vi sinh vật được thu thập, lưu giữ, đánh giá tính trạng di truyền, bảo tồn và phát triển thành sản phẩm thương mại tăng 3,12 lần so với thời kỳ đầu Chiến lược.
Cơ chế tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích đã được thiết lập phù hợp với Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tạo hành lang pháp lý cho việc bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các nguồn gen trên lãnh thổ Việt Nam; hệ thống quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen đã đi vào vận hành và bảo đảm 100% cây trồng biến đổi gen được đánh giá và cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học trước khi đưa ra trồng trọt; thực phẩm, thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen được đánh giá an toàn trước khi đưa ra thị trường.
Sử dụng bền vững đa dạng sinh học và dịch vụ hệ sinh thái đã có nhiều kết quả, đặc biệt là thực hiện cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường; nội dung đánh giá tác động tới đa dạng sinh học đã được chú trọng trong quá trình thực hiện đánh giá môi trường chiến lược và đánh giá tác động môi trường; tình hình buôn bán, tiêu thụ các loài động vật hoang dã nguy cấp đã từng bước được kiểm soát.
Chính sách, pháp luật về đa dạng sinh học từng bước được hoàn thiện; hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đa dạng sinh học các cấp từ Trung ương tới địa phương đã được thiết lập và từng bước được tăng cường năng lực để thực hiện các nhiệm vụ của Luật Đa dạng sinh học và yêu cầu thực tiễn; công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin, pháp luật về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học được thực hiện thường xuyên; hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học tiếp tục được mở rộng và tăng cường.
Cần thiết có Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, Chiến lược 2020 vẫn còn một số tồn tại và hạn chế. Đa dạng sinh học vẫn tiếp tục bị suy giảm; số lượng các loài nguy cấp, các loài bị đe dọa tăng lên; nhiều hành lang đa dạng sinh học kết nối các khu bảo tồn theo quy hoạch chưa được xây dựng; thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về đa dạng sinh học còn phân tán và chưa được xây dựng đồng bộ, …
Trên quy mô toàn cầu, bảo tồn đa dạng sinh học đang được đặt ra là một vấn đề cần có sự hành động cấp thiết các quốc gia do tình hình suy giảm đa dạng sinh học đang ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe, sự tồn tại và phát triển bền vững của nhân loại. Chính vì vậy, giai đoạn 2021-2030 được Liên hợp quốc xác định là thập niên “Phục hồi các hệ sinh thái”. Mục tiêu và yêu cầu về bảo tồn đa dạng sinh học đã trở thành nội dung của nhiều văn kiện quốc tế quan trọng như Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDG), Khung toàn cầu về đa dạng sinh học sau 2020 (GBF), Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới...
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Chính phủ Việt Nam cần phải có những hành động chiến lược để bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi các nghĩa vụ quốc tế.
Việc xây dựng Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (sau đây viết tắt là Chiến lược 2030) được xác định là một trong những nhiệm vụ cấp thiết để đa dạng sinh học được bảo tồn, phục hồi, phát triển và dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng bền vững góp phần phát triển kinh tế - xã hội, mang lại lợi ích cho mọi người dân.
Đồng thời, Chiến lược 2030 cũng sẽ tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 15 tháng 01 năm 2019 của Bộ Chính trị về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và phát huy các nguồn lực của nền kinh tế; Nghị quyết số 24-NQ/TW, Kết luận số 56-KL/TW ngày 23 tháng 8 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 Khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, Nghị quyết số 05/NQ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 01 năm 2021 phê duyệt chủ trương Việt Nam ủng hộ Cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới về Thiên nhiên nhân dịp Hội nghị thượng đỉnh về Đa dạng sinh học trong khuôn khổ Khóa họp lần thứ 75 của Đại hội đồng Liên hợp quốc./.
(VEA)
TIN LIÊN QUAN
- Hội nghị triển khai các nhiệm vụ trọng tâm lĩnh vực môi trường năm 2026
- Hướng dẫn hưởng ứng Ngày Đất ngập nước Thế giới năm 2026
- Cục trưởng Cục Môi trường Tăng Thế Cường làm việc với Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc
- Tập trung tuyên truyền sâu rộng tầm vóc Đại hội XIV của Đảng
- Ông Tăng Thế Cường giữ chức Cục trưởng Cục Môi trường
- Tăng cường quản lý công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng
- Đưa tín chỉ các-bon rừng Việt Nam ra thị trường thế giới
- Khẩn trương khắc phục hậu quả do lũ lụt, nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định đời sống Nhân dân
- Phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường; giảm thiều phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý rác thải vì một Việt Nam sáng - xanh - sạch - đẹp
- Hội thảo về chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững kinh tế biển và kinh tế tuần hoàn