Những định hướng triển khai hành động vì Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái
Tin tức - Sự kiện 16/02/2023
Kể từ khi Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) được ban hành năm 2008, đã có 180 văn bản quy phạm pháp luật cấp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cấp Bộ, liên Bộ đã được ban hành để hướng dẫn thi hành luật ĐDSH hoặc các luật khác liên quan tới bảo tồn ĐDSH. Trong đó, Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2013 là một văn bản mang tính định hướng tổng thể về công tác bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, tạo cơ sở cho phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đến nay, công tác bảo tồn ĐDSH đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
Một là, Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về ĐDSH dần được hoàn thiện và tăng cường hiệu quả trong quá trình thực thi. Cùng với Luật Đa dạng sinh học việc ban hành và sửa đổi các luật như: Luật Lâm nghiệp năm 2017, Luật Thủy sản sửa đổi năm 2017, Bộ Luật hình sự năm 2015 và Luật hình sự sửa đổi năm 2017...và các văn bản hướng dẫn các Luật đã tạo ra một hệ thống văn bản pháp luật thống nhất và hiệu quả.
Hai là, cải thiện hệ sinh thái, phục hồi rừng ngập mặn. Theo đó, các địa phương đã trồng được 21.000 ha rừng ven biển, trong đó trồng rừng mới 13.660 ha, trồng bổ sung, phục hồi rừng kém chất lượng 7.340 ha. Năm 2020, các tỉnh ven biển đang tiếp tục triển khai kế hoạch trồng 4.000 ha rừng ven biển. Kết quả trồng rừng ven biển cả giai đoạn 2015-2020 ước đạt 25.000 ha.
Ba là, hoạt động bảo tồn nguồn gen cũng đã đạt được những kết quả khả quan với việc tăng cường công tác thu thập, lưu giữ các nguồn gen cây trồng, vật nuôi, thủy sản, vi sinh vật và xác định giá trị, đánh giá di truyền. Số lượng nguồn gen được lưu giữ bảo tồn ở cả phương thức tại chỗ và chuyển chỗ được tăng lên hàng năm. Việc chia sẻ lợi ích từ nguồn gen đã được pháp lý hóa, bước đầu đem lại lợi ích cho cộng đồng và các nhà khoa học. Chương trình nhân nuôi sinh sản các loài hoang dã được quan tâm phát triển. Việc sinh sản nhân tạo và nuôi thương phẩm thành công các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, có giá trị kinh tế cao đã tạo cơ hội phát triển kinh tế, xã hội tại các địa phương, góp phần bảo tồn nguồn gen, giảm sức ép lên việc khai thác động vật hoang dã trong tự nhiên.
Bốn là, là thành viên có trách nhiệm với các Công ước, điều ước quốc tế về đa dạng sinh học, Việt Nam đã xây dựng và đề cử nhiều khu bảo tồn có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế. Đến năm 2013, Việt Nam mới có 5 khu Ramsar được công nhận, tới năm 2019 có thêm 4 khu Ramsar, nâng tổng số 9 khu Ramsar được công nhận. Đến năm 2012, Việt Nam mới có 5 Vườn di sản Asean được công nhận, tới năm 2019, Việt Nam có thêm 5 Vườn di sản Asean, nâng tổng số 10 Vườn di sản Asean được công nhận. Cho đến nay, Việt Nam đã có 9 khu Dự trữ sinh quyển thế giới được công nhận.
Năm là, các hoạt động gây tác động xấu đến ĐDSH như hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mặt nước, phương thức canh tác, khai thác kém bền vững, sinh vật ngoại lai xâm hại và các hoạt động gây ô nhiễm môi trường đã được tăng cường kiểm soát, giảm thiểu tác động.
Sáu là, xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu (CSDL) ĐDSH, số hóa quản lý di sản thiên nhiên được quan tâm đẩy mạnh, hướng tới việc số hóa công tác quản lý, bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH, phù hợp với Chính phủ điện tử ngành TN&MT. Đề án kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2040 đang được xây dựng và dự kiến trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 10/2021.
Mặc dù vậy, Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học cũng đã bộc lộ những vấn đề hạn chế và cần có sự điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội hiện nay và định hướng công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên thế giới.
Những định hướng triển khai hành động vì Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái trong thời gian tới
Trong thập kỷ Phục hồi hệ sinh thái 2021-2030, Việt Nam cần có các chính sách và hành động mạnh mẽ hơn để bảo tồn và khôi phục lại giá trị của các hệ sinh thái tự nhiên. Trong đó, Bộ TN&MT sẽ tập trung tham mưu, đề xuất và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ như sau:
Một là, tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, nhất là:
Xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường trong đó quy định nội dung Bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên đã được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020;
Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học trong giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Đề án kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2040...
Hai là, phát triển mạng lưới các khu di sản thiên nhiên; đẩy mạnh các hoạt động kết nối với các địa phương, các khu di sản thiên nhiên, cảnh quan sinh thái quan trọng khác. Đầu tư nâng cao năng lực bảo vệ môi trường các khu di sản thiên nhiên. Triển khai thực hiện các hoạt động hưởng ứng, triển khai Đề án của Thủ tướng Chính phủ về việc trồng 1 tỷ cây xanh.
Ba là, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng; củng cố và mở rộng các khu vực/hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế. Tổ chức triển khai kiểm kê đất ngập nước ven biển và tổng hợp kết quả kiểm kê đất ngập nước trên toàn quốc; tăng cường năng lực quản lý đất ngập nước tại một số vùng trọng điểm, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Bốn là, tiếp tục các nỗ lực nhằm ngăn chặn sự suy giảm các loài động vật hoang dã bị đe dọa, đặc biệt các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, loài chim hoang dã di cư. Bảo tồn các giống cây trồng, vật nuôi bản địa, các chủng vi sinh vật quý, hiếm. Xây dựng, củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học.
Năm là, kiểm soát, đánh giá tác động tiêu cực của các dự án, hoạt động kinh tế tới thiên nhiên, đa dạng sinh học. Xây dựng các nội dung, yêu cầu về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học trong việc thực hiện các công cụ quản lý, kiểm soát tác động tới môi trường của các dự án, hoạt động phát triển kinh tế.
Sáu là, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý di sản thiên nhiên. Đồng thời, nghiên cứu tổ chức thực hiện các giải pháp để tăng cường vai trò, sự đóng góp của đa dạng sinh học tới phát triển kinh tế-xã hội. Sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học./.
(VEA)
TIN LIÊN QUAN
- Ông Tăng Thế Cường giữ chức Cục trưởng Cục Môi trường
- Tăng cường quản lý công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng
- Đưa tín chỉ các-bon rừng Việt Nam ra thị trường thế giới
- Khẩn trương khắc phục hậu quả do lũ lụt, nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định đời sống Nhân dân
- Phát động phong trào toàn dân tham gia bảo vệ môi trường; giảm thiều phát sinh, phân loại, thu gom, xử lý rác thải vì một Việt Nam sáng - xanh - sạch - đẹp
- Hội thảo về chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững kinh tế biển và kinh tế tuần hoàn
- Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan làm việc tại Cảng container quốc tế Hateco Hải Phòng
- Từ ngày 1/3/2026, quy định lộ trình áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe ô tô tham gia giao thông đường bộ sẽ chính thức có hiệu lực.
- Ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Sinh thái và Môi trường Trung Quốc với Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam
- Hội thảo 'Truyền thông và tập huấn về công tác bảo vệ môi trường, giảm rác thải nhựa'