Ngành Khí tượng Thủy văn kỳ vọng vào quyết sách từ Đại hội XIV

Tin tức - Sự kiện 23/01/2026

Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn kỳ vọng các quyết sách từ Đại hội sẽ tạo sự chuyển biến tích cực để củng cố vai trò của ngành, phục vụ phát triển bền vững.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thiên tai ngày càng cực đoan, khó lường. Ông Nguyễn Thượng Hiền, Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn trao đổi về những kết quả của công tác khí tượng thủy văn (KTTV) trong nhiệm kỳ vừa qua, đồng thời kỳ vọng các quyết sách từ Đại hội Đảng trong nhiệm kỳ tới.

Ông Nguyễn Thượng Hiền, Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Từ Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định, ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai là nhiệm vụ trọng tâm và Việt Nam phải nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu. Ngành Khí tượng Thủy văn đã cụ thể hóa định hướng này ra sao trong nhiệm kỳ 2021-2025 vừa qua, thưa ông?

Đại hội XIII của Đảng xác định ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả hệ thống chính trị. Trong nhiệm kỳ 2021-2025, quán triệt sâu sắc tinh thần trên và đồng thời thực hiện Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư và Kết luận số 81-KL/TW của Bộ Chính trị, ngành KTTV đã chủ động cụ thể hóa các định hướng lớn bằng những giải pháp đồng bộ trên cả phương diện quản lý nhà nước, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ thuật.

Trước hết, trên phương diện quản lý nhà nước, ngành KTTV đã chủ động tham mưu ban hành và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, chương trình, đề án phát triển ngành. Trọng tâm là Chiến lược và Đề án hiện đại hóa ngành KTTV đến năm 2025, tầm nhìn 2030, cùng Quy hoạch mạng lưới trạm quan trắc KTTV quốc gia. Công tác triển khai Luật Khí tượng Thủy văn được đẩy mạnh, song hành với rà soát, hoàn thiện hệ thống nghị định, thông tư, quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật. Đây trở thành cơ sở để ngành từng bước chuẩn hóa hoạt động quan trắc, dự báo, cảnh báo và cung cấp thông tin KTTV. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phục vụ tốt hơn công tác phòng, chống thiên tai.

Trong nhiệm kì vừa qua, ngành tập trung hiện đại hóa hạ tầng quan trắc và dự báo, coi đây là nền tảng cốt lõi để nâng cao năng lực cảnh báo sớm thiên tai và giám sát biến đổi khí hậu. Mạng lưới trạm KTTV quốc gia hiện có 2.842 trạm. Nhiều trạm khí tượng, thủy văn, hải văn, ra-đa thời tiết và các hệ thống quan trắc tự động được đầu tư, nâng cấp theo hướng đồng bộ, hiện đại. Đồng thời, việc tăng cường khai thác dữ liệu viễn thám, vệ tinh đã giúp nâng cao độ tin cậy và thời hạn dự báo các hiện tượng thời tiết, khí hậu nguy hiểm như bão, mưa lớn, lũ, lũ quét, sạt lở đất.

Bên cạnh đó, ngành KTTV đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, đưa các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, mô hình số trị vào xử lý, phân tích và dự báo. Hệ thống cơ sở dữ liệu KTTV quốc gia từng bước hình thành, phục vụ hiệu quả công tác giám sát biến đổi khí hậu, xây dựng kịch bản và cung cấp thông tin phân vùng rủi ro cho các bộ, ngành, địa phương ứng dụng trong quy hoạch và phát triển kinh tế – xã hội.

Ngành KTTV cũng đã chú trọng đẩy mạnh hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực tổ chức, tham gia tích cực các cơ chế của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và các đối tác. Qua đó, tiếp thu công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, đồng thời khẳng định vai trò và vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế về khí tượng thủy văn và ứng phó biến đổi khí hậu.

Đại hội XIV của Đảng đang diễn ra từ ngày 19-23/1/2026. 

Tác động của biến đổi khí hậu thể hiện qua thời tiết, thiên tai cực đoan đang đặt ra những thách thức gì đối với Việt Nam, thưa ông?

Biến đổi khí hậu đang làm gia tăng cả tần suất, cường độ và mức độ bất thường của các hiện tượng thời tiết, thiên tai nguy hiểm. Bão mạnh, mưa lớn cục bộ, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán, xâm nhập mặn, nắng nóng... diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường, có xu hướng vượt ra ngoài các quy luật và giá trị quan trắc lịch sử.

Thiên tai cực đoan gây tổn thất lớn về người, tài sản và cơ sở hạ tầng, tác động trực tiếp đến các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như nông nghiệp, thủy sản, giao thông, năng lượng, tài nguyên nước và phát triển đô thị. Không chỉ làm gia tăng chi phí khắc phục, phục hồi sau thiên tai, những tác động này còn ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô và sinh kế lâu dài của người dân, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương.

Trong bối cảnh đó, nếu các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội không cập nhật kịp thời theo các kịch bản khí hậu mới, đất nước sẽ phải đối mặt với rủi ro gia tăng, làm suy giảm hiệu quả đầu tư và khả năng chống chịu của nền kinh tế.

Đối với ngành KTTV, tính bất thường và cực đoan của thời tiết, khí hậu đặt ra thách thức rất lớn đối với công tác dự báo, cảnh báo sớm, nhất là dự báo mưa lớn cục bộ, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng nguy hiểm trên biển. Ngành cũng đứng trước yêu cầu về độ tin cậy, thời hạn và mức độ chi tiết của dự báo ngày càng cao. Thông tin KTTV không chỉ dừng ở cấp quốc gia hay vùng mà cần chi tiết đến cấp địa phương, thậm chí đến cấp xã/điểm; gắn trực tiếp với chỉ đạo, điều hành phòng, chống thiên tai và bảo đảm an toàn cho người dân. Trong khi đó, năng lực hạ tầng, thiết bị và nguồn lực còn hạn chế.

Các quan trắc viên kiểm tra, hướng dẫn vận hành khai thác thiết bị tự động tại Trạm Khí tượng Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. 

Ông có thể chia sẻ kỳ vọng của mình về sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực khí tượng thủy văn trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, để ngành thực sự trở thành nền tảng khoa học phục vụ quản lý rủi ro thiên tai và phát triển bền vững?

Từ góc độ lãnh đạo Cục Khí tượng Thủy văn, tôi kỳ vọng trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, Đảng và Nhà nước sẽ tiếp tục dành sự quan tâm sâu sắc, toàn diện và mang tính chiến lược hơn nữa đối với lĩnh vực khí tượng thủy văn, coi đây là hạ tầng khoa học – kỹ thuật thiết yếu của quốc gia, phục vụ trực tiếp công tác quản lý rủi ro thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển bền vững đất nước.

Trước hết, tôi kỳ vọng Đảng và Nhà nước tiếp tục hoàn thiện chủ trương, thể chế, chính sách theo hướng xác định rõ vai trò nền tảng của khí tượng thủy văn trong chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế – xã hội; tạo cơ sở pháp lý ổn định, lâu dài để ngành chủ động xây dựng và triển khai các chiến lược, quy hoạch, chương trình đầu tư có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với kịch bản biến đổi khí hậu và yêu cầu hội nhập quốc tế.

Thứ hai, rất mong tiếp tục được ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm cho hiện đại hóa hệ thống quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm và giám sát biến đổi khí hậu, nhất là ở các khu vực trọng yếu, dễ bị tổn thương như miền núi, ven biển và hải đảo. Đây là điều kiện then chốt để nâng cao độ tin cậy của dự báo, cảnh báo, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.

Thứ ba, tôi kỳ vọng Đảng và Nhà nước quan tâm hơn nữa đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành khí tượng thủy văn, có cơ chế thu hút, đãi ngộ và giữ chân đội ngũ chuyên gia giỏi; đồng thời tạo điều kiện để ngành đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại và chuyển đổi số, làm chủ các công nghệ lõi, từng bước tiệm cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.

Trân trọng cảm ơn ông!