Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Bắc đợt 7/2023
Quan trắc môi trường định kỳ 15/10/2023
Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Bắc đợt 7/2023 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí:
Thống kê kết quả quan trắc Đợt 07/2023 cho thấy, chất lượng môi trường không khí ở khu vực miền Bắc vẫn tốt, giá trị quan trắc cao hơn so với cùng thời gian năm 2022. Trong đợt 7-2023, có 04 điểm quan trắc vượt QCVN đều nằm tại các vị trí KCN cạnh quốc lộ 5 cũ và quốc lộ 18. Các thông số quan trắc, phân tích khác như NO2, CO, SO2, Pb có giá trị thấp, đạt QCVN 05:2013/BTNMT.
Ngoài thông số bụi TSP, tại một số điểm quan trắc gần trục giao thông lớn, gần các KCN… tiếp tục ghi nhận mức ồn vượt QCVN 26:2010/BTNMT (trong khung thời gian từ 6-21h).
Cụ thể, kết quả quan trắc cho thấy, giá trị thông số bụi TSP tại gần các KCN có khoảng giá trị cao hơn so với các điểm quan trắc gần khu dân cư và gần trục giao thông. Tại 15 điểm quan trắc gần các KCN ở miền Bắc Đợt 07/2023, giá trị bụi TSP dao động từ 165-391 µg/m3 , có 04/15 điểm quan trắc gần KCN Đại An và KCN Nam Sách (tỉnh Hải Dương); KCN Như Quỳnh (Hưng Yên); KCN Quế Võ (Bắc Ninh) vượt từ 1,01-1,3 lần giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT (TB 1h). Đây là các điểm quan trắc gần lối vào cổng KCN, nơi có mật độ và lưu lượng phương tiện giao thông lớn, nhiều xe tải vận chuyển hàng đi lại. Các điểm quan trắc gần các KCN khác thuộc địa phận thành phố Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc và Hà Tĩnh, kết quả quan trắc cho giá trị bụi TSP thấp và đều đạt QCVN 05:2013/BTNMT (TB 1h).
Các điểm quan trắc gần một số nút giao thông tại thành phố Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương và Hà Tĩnh, giá trị bụi TSP trung bình trong Đợt 07/2023 dao động từ 193-234 µg/m3 , đều đạt QCVN 05:2013/BTNMT (TB 1h) và ít biến động so với cùng kỳ quan trắc năm 2022.
Đối với các điểm quan trắc gần khu dân cư (KDC), giá trị bụi TSP trung bình Đợt 07/2023 dao động từ 175-285 µg/m3 và đều đạt QCVN 05:2013/BTNMT (TB 1h). So với cùng kỳ quan trắc năm 2022, chất lượng không khí tại KDC tương đồng không biến động nhiều.
Đối với các thông số khác (CO, Pb, SO2, NO2), kết quả quan trắc ở khu vực các tỉnh miền Bắc thời điểm quan trắc Đợt 07/2023 cho giá trị thấp và đều đạt QCVN 05:2013/BTNMT.
Đối với kết quả quan trắc tiếng ồn, có 14/31 vị trí có tiếng ồn chạm và vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (70dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h). Mức ồn thấp nhất tại điểm quan trắc Khu dân cư gần cảng Sơn Dương - Kỳ Anh - Hà Tĩnh (56,8 dBA), cao nhất đo được tại điểm KCN Nomura – Hải Phòng (74,4 dBA). Mức ồn cao, vượt giới hạn cho phép ghi nhận tại các điểm quan trắc gần các KCN và trục giao thông.
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt:
Chất lượng nước trên 05 LVS trong đợt quan trắc tháng 9/2023 khá tốt, đa phần phù hợp cho mục đích cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, giao thông thủy nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp, nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu và các mục đích tương đương khác. Trong số 185 điểm quan trắc trên 05 LVS, có đến 71,9% các điểm có giá trị WQI đạt ở mức rất tốt đến tốt; 5,9% các điểm quan trắc ở mức ô nhiễm. Các điểm còn lại ở mức trung bình và xấu.

Chất lượng nước giữa các sông quan trắc tại miền Bắc thời điểm đợt 7/2023 có sự chênh lệch rõ rệt, trên các LVS Hồng - Thái Bình, Đà; Mã-Chu; Cả La, các điểm quan trắc đều đạt chất lượng nước sông ở mức Tốt đến rất Tốt, giá trị WQI trung bình các điểm quan trắc trên 3 LVS kể trên đạt ở mức từ 79-97, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản và các mục đích tương đương khác. LVS Nhuệ-Đáy có chất lượng kém nhất trong số các LVS thực hiện quan trắc ở miền Bắc, nước sông chỉ có thể sử dụng được cho mục đích giao thông thủy, (WQI trung bình trên toàn tuyến sông: 59).
Chi tiết diễn biến chất lượng nước trên các LVS như sau:
Chất lượng môi trường nước LVS Cầu
Trong số 42 điểm quan trắc trên LVS Cầu đợt 7/2023, có 66,7% số điểm cho chất lượng nước sông đạt mức tốt đến rất tốt (WQI >77); 28,6% số điểm ở mức trung bình; 4,8% số điểm ở mức ô nhiễm đến ô nhiễm rất nặng. Giá trị WQI trung bình trên toàn LVS Cầu là 79, nước sông sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt và các mục đích tương đương khác. Tuy nhiên trên từng đoạn sông, chất lượng môi trường nước có sự khác nhau: Trên nhánh chính Sông Cầu, chất lượng nước sông tương đối tốt và ít biến động so với cùng kỳ năm 2022, đa phần các điểm quan trắc có chất lượng phù hợp cho mục đích sinh hoạt, nuôi trồng thuỷ sản, tưới tiêu và các mục đích tương đương khác, giá trị WQI (72-95), tại điểm Phúc Lộc Phương, chất lượng nước sông có sự suy giảm.
Trên sông Công, sông Nghinh Tường, sông Đu và sông Thương, chất lượng nước sông ít biến động, duy trì ở mức tốt đến rất tốt, nước sông sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
Trên sông Ngũ Huyện Khê, chất lượng nước không thay đổi nhiều và tiếp tục bị ô nhiễm. Đợt 7(2023), điểm Cầu Đào Xá đạt giá trị là 18. Điểm Cầu Song Thát(WQI:55) và Văn Môn(WQI:54) ở mức trung bình, sử dụng cho tưới tiêu và các mục đích khác. Tình trạng ô nhiễm tại suối Bóng Tối vẫn chưa được cải thiện (WQI: 20), nước sông tiếp tục bị ô nhiễm do tiếp nhận nước thải sinh hoạt thành phố Thái Nguyên, Giá trị NH4 + tại cầu Bóng Tối (1,14 mg/L) vượt 1,7 lần, COD (111 mg/L) vượt 3,7 lần QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1.
Chất lượng môi trường nước trên LVS Nhuệ, Đáy
LVS Nhuệ - Đáy là LVS có chất lượng nước kém nhất trong các LVS thực hiện quan trắc tại miền Bắc, các điểm ô nhiễm tại miền Bắc chủ yếu nằm trên LVS Nhuệ - Đáy. Chất lượng Cống Liên Mạc (WQI:42) ở mức kém. Các điểm Phúc La – Hà Đông, Cầu Tó, Cự Đà, Cầu Chiếc, Đồng Quan, Cống thần cùng Cống Nhật Tựu chất lượng ở mức kém đến ô nhiễm nặng(WQI:11-50), cần các biện pháp xử và khắc phục sớm.
Trên sông Nhuệ, thời điểm quan trắc Đợt 07/2023, chất lượng nước sông được cải thiện dần về phía hạ lưu, điểm Đò Kiều có sự cải thiện đáng kể, đây là điểm nước nhiễm độc và ô nhiễm rất nặng, nhưng đợt 7/2023 có chỉ số WQI là 66, đã có sự khắc phục và xử lý nên có thể sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích khác. Cầu Hồng Phú chất lượng nước có sự thụt giảm tương đối nhiều. WQI tháng 9/2022 là 94, nước rất tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt, nhưng đợt quan trắc vừa qua WQI là 54, ở mức trung bình, cần có biện pháp khắc phục sớm.
Trên sông Đáy, các điểm từ Hà Nội đến Hà Nam quan trắc đợt 07/2023, WQI ở mức trung bình chỉ có thể ở tưới tiêu và các mục đích khác (49-68). Chất lượng bị suy giảm do tiếp nhận lượng lớn nước sinh thải sinh hoạt, làng nghề, công nghiệp chưa qua xử lý xả ra và tiếp nhận nước từ sông Nhuệ. Chất lượng nước được cải thiện dần về phía hạ lưu, đến địa phận Ninh Bình, nước sông sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt (WQI:80-91).
Trên các phụ lưu, sông Hoàng Long (WQI: 80-89) và sông Đào (WQI: 82- 89) tiếp tục ở mức tốt. Sông Châu Giang (WQI:63-67) nước chỉ ở mức trung bình do nguồn nước thải của Hà Nội đổ về. Nước thải sinh hoạt chưa được xử lý từ sông Tô Lịch chảy qua đập Thanh Liệt của Hà Nội đổ về phía hạ lưu, trong đó có sông Nhuệ, sông Châu, sông Đáy của Hà Nam.
Các sông nội thành Hà Nội(WQI:12-16), so với đợt quan trắc cùng kỳ năm trước và đợt trước, nước sông tiếp tục ở mức ô nhiễm nặng do nước thải sinh hoạt từ các quận nội thành Hà Nội đổ vào sông Tô Lịch rồi chảy vào sông Nhuệ, cần biện pháp xử lý và khắc phục.
Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà
Chất lượng nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà đợt 7 (tháng 9/2023) có 2 điểm tại Lào Cai là Cầu Phố Lu (WQI: 66) và Bảo Hà (WQI:53) ở mức trung bình, chất lượng nước giảm so với cùng kỳ năm trước và đợt trước do mùa mưa. Nhìn chung tại lưu vực sông vẫn duy trì mức tốt, tại phần lớn các điểm, nước sông sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (WQI: 76-97). Chất lượng nước trên sông Hồng duy trì ở mức tốt.
Trên các phụ lưu (sông Đà, sông Lô, sông Thái Bình), môi trường nước sông rất tốt, chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm và ít biến động qua các đợt quan trắc (WQI: 85-96), hầu hết các vị trí nước sông sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
Chất lượng môi trường nước LVS Mã - Chu
Chất lượng nước sông Mã chảy qua địa bàn tỉnh Điện Biên và Sơn La thời điểm quan trắc (tháng 9/2023) ở mức trung bình đến tốt (WQI:60-93), sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác.
Các điểm còn lại chất lượng nước trên toàn LVS Mã – Chu tiếp tục duy trì ở mức tốt đến rất tốt (WQI: 75-90), nước sông sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
Chất lượng môi trường nước sông Lam, sông La
Chất lượng nước trên sông Lam và sông La tiếp tục duy trì ở mức tốt đến rất tốt trên toàn lưu vực sông. Trên sông Lam và các phụ lưu, chất lượng nước đều ở mức tốt đến rất tốt (WQI: 81-97), nước sông sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
Trên sông La và các phụ lưu, nước sông tiếp tục duy trì ở mức rất tốt (WQI:87-99), nước sông sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu và các mục đích tương đương khác.
Tóm lại, kết quả quan trắc môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc Đợt 07/2023 (tháng 9) cho thấy: chất lượng môi trường không khí các địa phương miền Bắc có xu kém hơn, trừ vị trí quan trắc gần các KCN cạnh quốc lộ 5 và quốc lộ 18 ghi nhận giá trị bụi TSP vượt nhẹ giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT (TB 1h). Tại các vị trí quan trắc khác, giá trị TSP thấp, đạt giới hạn cho phép theo quy định. Các thông số khác như NO2, CO, SO2, Pb, giá trị thấp và đều đạt QCVN 05:2013/BTNMT (TB 1h). Chất lượng môi trường nước trên các LVS Hồng - Thái Bình, Đà; LVS Mã - Chu và LVS Cả - La (sông Lam, sông La) duy trì ở mức tốt đến rất tốt và có ít biến động so với cùng kỳ quan trắc tháng 9/2022 và đợt 06/2023. Nước sông sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu và các mục đích tương đương khác. Chất lượng nước giảm ở số lưu vực sông do mùa mưa tại LVS Hồng-Thái Bình và ô nhiễm tiếp diễn và chưa có dấu hiệu được cải thiện tại khu vực sông Ngũ Huyện Khê và suối Bóng Tối thuộc LVS Cầu; đoạn sông Nhuệ qua thành phố Hà Nội hay trên các sông nội thành thuộc LVS Nhuệ, Đáy./.
TIN LIÊN QUAN
- BÁO CÁO TÓM TẮT CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN Tháng 11 năm 2025
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 10/2025, tháng 11/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 5, tháng 10/2025)
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 9/2025, tháng 10/2025) Hà Nội, tháng 11/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 4, tháng 10/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 3, tháng 9/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 8/2025, tháng 9/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 2, tháng 9/2025)
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 7/2025, tháng 8/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 1, tháng 8/2025)