Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 2/2023

Quan trắc môi trường định kỳ 04/05/2023

Báo cáo đánh giá tóm tắt hiện trạng chất lượng môi trường không khí và nước các tỉnh miền Bắc được xây dựng trên cơ sở kết quả quan trắc Đợt 02/2023 (tháng 3/2023) do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc thực hiện từ ngày 08/3 đến hết ngày 24/3/2023. Trong đó, chất lượng môi trường không khí được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 31 điểm quan trắc thuộc địa bàn các tỉnh vùng KTTĐ phía Bắc và một số điểm nóng về ô nhiễm môi trường không khí tại một số khu đô thị, KCN… trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; chất lượng môi trường nước đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 185 điểm quan trắc môi trường nước mặt thuộc 05 lưu vực sông (LVS Cầu, LVS Nhuệ - Đáy, LVS Mã - Chu, LVS Hồng - Thái Bình, Đà và LVS Cả - La).

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 2/2023 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí: có 02 vị trí quan trắc ghi nhận giá trị thông số bụi TSP vượt nhẹ so với giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT (TB1h), các thông số môi trường không khí còn lại gồm NO2, CO, SO2, Pb có giá trị thấp, đạt QCVN 05:2013/BTNMT. 

Biểu đồ 1. Diễn biến giá trị bụi TSP gần các KCN khu vực các tỉnh miền Bắc
Qua kết quả quan trắc cho thấy, giá trị thông số bụi TSP có sự khác nhau giữa các khu vực quan trắc. Các điểm quan trắc gần các KCN có giá trị bụi TSP dao động từ 162-318 µg/m3. Các điểm quan trắc gần nút giao thông có giá trị bụi TSP dao động từ 150-190 µg/m3, trong khi các điểm quan trắc gần khu dân cư (KDC) có giá trị bụi TSP dao động từ 150-170 µg/m3. 
Các thông số khác (CO, Pb, SO2, NO2), kết quả quan trắc ở khu vực các tỉnh miền Bắc thời điểm quan trắc Đợt 02/2023 đều thấp và nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT. 
Kết quả quan trắc tiếng ồn, Đợt 02/2023 cho thấy, có 18/31 vị trí có tiếng ồn chạm và vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (70dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h). 

Biểu đồ 2. Diễn biến giá trị Tiếng ồn khu vực các tỉnh miền Bắc
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt: Kết quả tính toán chỉ số chất lượng môi trường nước (WQI) cho thấy chất lượng nước sông miền Bắc khá sạch. Trong số 185 điểm quan trắc trên 05 LVS thực hiện quan trắc, có đến 79,0% các điểm có giá trị WQI đạt ở mức rất tốt đến tốt; 7,5% ở mức trung bình; 7,0% ở mức xấu và 6,5% số điểm quan trắc ở mức ô nhiễm nặng và rất nặng.
Biểu đồ 3. Chất lượng môi trường nước theo chỉ số WQI trên 05 LVS phía Bắc
Chi tiết diễn biến chất lượng nước trên các LVS như sau:
Chất lượng môi trường nước LVS Cầu: trong số 42 điểm quan trắc có đến 72,1% số điểm cho chất lượng nước sông đạt mức tốt đến rất tốt (WQI >76); 16,3% số điểm ở mức trung bình; 4,7% số điểm ở mức kém và 7,0% số điểm ở mức ô nhiễm đến ô nhiễm rất nặng. Giá trị WQI trung bình trên toàn LVS Cầu là 70, nước sông sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác song môi trường nước sông có sự phân hóa theo dòng chảy.
Chất lượng môi trường nước trên LVS Nhuệ, Đáy: LVS Nhuệ, Đáy tiếp tục là LVS ghi nhận nhiều điểm bị ô nhiễm nặng nhất, trong tổng 12 điểm bị ô nhiễm nặng và ô nhiễm rất nặng của 05 LVS có đến 09 điểm thuộc LVS Nhuệ, Đáy (chiếm đến 75% điểm bị ô nhiễm nặng). 
Chất lượng môi trường nước LVS Hồng – Thái Bình, Đà: tiếp tục duy trì mức khá tốt, nước sông sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (WQI: 74-99).
Chất lượng môi trường nước LVS Mã – Chu rất tốt, giá trị WQI dao động từ 81-94, chất lượng nước sông từ mức tốt đến rất tốt.
Chất lượng môi trường nước sông Lam – sông La: phần lớn các điểm quan trắc đạt ở mức tốt đến rất tốt, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt cần biện pháp xử lý, nuôi trồng thủy sản và các mục đích tương đương khác. Chỉ duy nhất tại điểm sông Vinh tại cầu Bến Thủy cho giá trị WQI: 44, chất lượng nước sông ở mức kém do chịu ảnh hưởng nước thải sinh hoạt tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.