Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Nam đợt 6/2023

Quan trắc môi trường định kỳ 05/12/2023

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước đợt 6 năm 2023 tại khu vực miền Nam do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Nam thực hiện từ ngày 02/10/2023 đến ngày 15/10/2023. Báo cáo được xây dựng trên cơ sở quan trắc các thành phần: nước mặt lục địa, nước biển ven bờ, không khí xung quanh, tiếng ồn và cường độ dòng xe. Trong đó, quan trắc được thực hiện tại 100 điểm (bao gồm: 58 điểm quan trắc nước mặt, 12 điểm quan trắc nước biển ven bờ, 30 điểm quan trắc không khí xung quanh, tiếng ồn và cường độ dòng xe), thuộc địa bàn các tỉnh/thành phố: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Long An, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Nam đợt 6/2023 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí:
Thống kê kết quả quan trắc cho thấy tất cả các giá trị thông số SO2 và thông số NO2 nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (trung bình 1 giờ) đối với môi trường không khí xung quanh. Phần lớn các điểm quan trắc ô nhiễm Tổng bụi lơ lửng (TSP) và tiếng ồn (Leq), tập trung chủ yếu tại các trục giao thông liên tỉnh, khu KCN, khu vực khai thác – sản xuất vật liệu xây dựng và một số nút giao thông đô thị.
Tại vùng KTTĐ phía Nam, giá trị TSP đợt tháng 10/2023 tại vùng KTTĐ phía Nam dao động từ 21 µg/Nm3 – 2.286 µg/Nm3, trong khi giá trị Leq trung bình dao động từ 50,8 dBA – 83,7 dBA.
Vùng KTTĐ vùng ĐBSCL, giá trị TSP qua 03 lần đo tại các điểm quan trắc dao động từ 26 µg/Nm3 – 650 µg/Nm3, trong khi giá trị Leq trung bình dao động từ 64,7 dBA – 75,8 dBA.
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt:
Kết quả quan trắc đợt tháng 10/2023 tại 58 vị trí trên 5 sông khu vực miền Nam cho thấy chất lượng nước có xu hướng cải thiện, sông Đồng Nai, sông Thị Vải thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai và sông Tiền có chất lượng nước khá tốt; sông Vàm Cỏ và sông Sài Gòn có chất lượng nước xấu nhất trong các sông được quan trắc ở khu vực miền Nam. 
Chi tiết diễn biến chất lượng nước trên các sông như sau:
Chất lượng nước sông Thị Vải có xu hướng cải thiện, có 50% vị trí quan trắc có giá trị WQI từ 76-100, chất lượng nước ở mức tốt và có 50% vị trí quan trắc có giá trị WQI từ 51-75, chất lượng nước ở mức trung bình.
Các điểm quan trắc tại sông Tiền có 100% vị trí quan trắc có giá trị WQI từ 95-100, chất lượng nước ở mức tốt.
Chất lượng nước sông Đồng Nai có xu hướng cải thiện. Trong đó có 80% vị trí chất lượng nước đạt mức rất tốt, giá trị WQI từ 91 – 100 (nguồn nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt), 10% vị trí chất lượng nước đạt mức tốt, giá trị WQI từ 76-90 (nguồn nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp) và 10% vị trí chất lượng nước đạt mức trung bình, giá trị WQI từ 51-75 (nguồn nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương).
Chất lượng nước sông Vàm Cỏ chủ yếu ở mức trung bình đến tốt, giá trị WQI ở mức trung bình đến tốt (WQI từ 51 – 90) chiếm 87,5% và mức xấu (WQI từ 26-50) chiếm 12,5% do bị ô nhiễm hữu cơ (đặc trưng bởi thông số DO, BOD5, COD) và ô nhiễm dinh dưỡng (đặc trưng bởi thông số N-NH4+).
Chất lượng nước sông Sài Gòn chủ yếu ở mức tốt đến trung bình, có 13/15 vị trí chất lượng nước có giá trị WQI ở mức trung bình đến tốt (WQI từ 51 – 100), chiếm 86,7% và có 2/16 vị trí chất lượng nước có giá trị WQI ở mức xấu (WQI từ 26 – 50), chiếm 13,3%, do ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng cao (đặc trưng bởi các thông số DO, BOD5, COD và N-NH4+). Nhìn chung sông Sài Gòn có chất lượng nước thấp hơn so với các lưu vực sông khác khu vực miền Nam.
Hiện trạng chất lượng môi trường nước ven bờ:
Kết quả quan trắc nước biển ven bờ đợt tháng 10/2023 cho thấy hầu hết giá trị các thông số đều nằm trong giới hạn quy định theo QCVN 10:2023/BTNMT, ngoại trừ thông số DO, TSS, Fe và N-NH4 + cụ thể: 
- Giá trị DO dao động từ 4,8 mg/L đến 8,3 mg/L, có 01/12 điểm quan trắc có giá trị không đạt QCVN 10:2023/BTNMT (mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước).
- Giá trị TSS dao động từ 10 mg/L - 174 mg/L. Trong đó, có 2/12 điểm quan trắc (có giá trị vượt QCVN 10:2023/BTNMT (mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước) lần lượt 3,5 lần và 2,6 lần. 
- Giá trị Fe dao động từ 0,48 mg/L - 4,47mg/L. Trong đó, có 8/12 điểm quan trắc có giá trị vượt QCVN 10:2023/BTNMT (mục đích bảo vệ sức khoẻ con người và hệ sinh thái biển) từ 1,07 lần đến 8,94 lần. 
- Giá trị N-NH4 + dao động từ nhỏ hơn giới hạn phát hiện (LOD=0,03mg/L) đến 0,14 mg/L, có 03/12 điểm quan trắc có giá trị vượt QCVN 10:2023/BTNMT (mục đích bảo vệ sức khoẻ con người và hệ sinh thái biển) từ 1,1 lần đến 1,4 lần.