Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Nam đợt 4/2023

Quan trắc môi trường định kỳ 08/10/2023

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước đợt 4 năm 2023 tại khu vực miền Nam do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Nam thực hiện từ ngày 07/8/2023 đến ngày 26/8/2023. Báo cáo được xây dựng trên cơ sở quan trắc các thành phần: nước mặt lục địa, nước biển ven bờ, không khí xung quanh, tiếng ồn và cường độ dòng xe. Trong đó, quan trắc được thực hiện tại 120 điểm (bao gồm: 60 điểm quan trắc nước mặt lục địa, 22 điểm quan trắc nước biển ven bờ, 38 điểm quan trắc không khí xung quanh, tiếng ồn và cường độ dòng xe), thuộc địa bàn các tỉnh/thành phố: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Long An, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Nam đợt 4/2023 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí:
Thống kê kết quả quan trắc tháng 8/2023 cho thấy tất cả các giá trị thông số SO2 và thông số NO2 nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT (trung bình 1 giờ) đối với môi trường không khí xung quanh. Phần lớn các điểm quan trắc ô nhiễm Tổng bụi lơ lửng (TSP) và tiếng ồn (Leq), tập trung chủ yếu tại các trục giao thông liên tỉnh, khu KCN, khu vực khai thác – sản xuất vật liệu xây dựng và một số nút giao thông đô thị.

Tại vùng KTTĐ phía Nam, giá trị TSP dao động từ 25 µg/m3 – 582 µg/m3, trong đó, các điểm quan trắc KCN và trục giao thông liên tỉnh phần lớn vượt giới hạn cho phép QCVN 05:2013/BTNMT trung bình 1 giờ (≤ 300 µg/m3 ). Mặt khác, y giá trị Leq trung bình dao động từ 56,9 dBA – 81,8 dBA. Các điểm quan trắc khu kinh tế và khu công nghiệp, trục giao thông liên tỉnh và nút giao thông đô thị phần lớn có giá trị Leq trung bình vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (Tiếng ồn từ 6 giờ - 21 giờ, khu vực thông thường ≤ 70 dBA).
Tại vùng KTTĐ vùng ĐBSCL, y giá trị TSP qua 03 lần đo tại các điểm quan trắc dao động từ 40 µg/m3 – 699 µg/m3. Các điểm quan trắc tác động bởi Khu du lịch và Khu công nghiệp có giá trị TSP cao hơn các điểm quan trắc nút giao thông đô thị, cả vùng có 04/19 điểm vượt giới hạn của QCVN 05:2013/BTNMT trung bình 1 giờ (≤ 300 µg/m3). Mặt khác, giá trị Leq trung bình dao động từ 64,6 dBA – 80,7 dBA. Trong đó, các điểm quan trắc tại các khu vực chịu tác động bởi Khu Du lịch và Khu công nghiệp và nút giao thông đô thị trung bình có giá trị ồn vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (Tiếng ồn từ 6 giờ - 21 giờ, khu vực thông thường ≤ 70 dBA)
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt:
Kết quả quan trắc đợt tháng 8/2023 tại 60 vị trí trên 5 sông khu vực miền Nam cho thấy: sông Đồng Nai, sông Thị Vải thuộc lưu vực hệ thống sông Đồng Nai là các sông có chất lượng nước được duy trì ổn định, còn khá tốt; sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ có chất lượng nước xấu nhất trong các sông được quan trắc ở khu vực miền Nam.
Chất lượng nước sông Thị Vải có xu hướng cải thiện, có 67% vị trí quan trắc có giá trị WQI từ 76-100, chất lượng nước ở mức tốt và có 33% vị trí quan trắc có giá trị WQI từ 51-75, chất lượng nước ở mức trung bình.
Trên sông Tiền có 100% vị trí quan trắc có giá trị WQI từ 76-100, chất lượng nước ở mức tốt.
Chất lượng nước sông Đồng Nai có xu hướng cải thiện. Trong đó có 61,90% vị trí chất lượng nước đạt mức rất tốt, giá trị WQI từ 91 – 100 (nguồn nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt), 28,6% vị trí chất lượng nước đạt mức tốt, giá trị WQI từ 76-90 (nguồn nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp) và 9,5% vị trí chất lượng nước đạt mức trung bình, giá trị WQI từ 51-75 (nguồn nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương) do nước bị ô nhiễm dinh dưỡng (đặc trưng bởi thông số N-NO2 - ).
Chất lượng nước sông Vàm Cỏ chủ yếu ở mức xấu đến tốt, giá trị WQI ở mức trung bình đến tốt (WQI từ 51 – 90) chiếm 87,5%, còn lại 12,5% giá trị WQI ở mức xấu (26 – 50). 
Chất lượng nước sông Sài Gòn chủ yếu ở mức tốt đến trung bình, có 13/16 vị trí chất lượng nước có giá trị WQI ở mức trung bình đến tốt (WQI từ 51 – 100), chiếm 81,3% và có 03/16 vị trí chất lượng nước có giá trị WQI ở mức xấu (WQI từ 26 – 50), chiếm 18,8%, do ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng cao (đặc trưng bởi các thông số DO, BOD5, COD và N-NH4+, NNO2-). Nhìn chung chất lượng nước sông Sài Gòn có chất lượng nước thấp hơn so với các lưu vực sông khác khu vực miền Nam.
Hiện trạng chất lượng môi trường nước ven biển:
Kết quả quan trắc nước biển ven bờ đợt tháng 8/2023 cho thấy hầu hết giá trị các thông số đều nằm trong giới hạn quy định theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT, ngoại trừ thông số TSS, Fe, N-NH4+, cụ thể: 
- Giá trị TSS dao động từ 8-565 mg/L.Trong đó, có 11/22 điểm quan trắc có giá trị vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT lần lượt 1,1 lần và 11,3 lần. 
- Giá trị Fe dao động từ 0,27-22,76 mg/L cao nhất tại Biển Cồn Nhàn (Bến Tre) và cần theo dõi trong các đợt quan trắc tiếp theo. Trong đó có 17/22 điểm quan trắc có giá trị vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT từ 1,2 lần đến 45,5 lần. 
- Giá trị N-NH4 + dao động từ nhỏ hơn giới hạn phát hiện (LOD = 0,03 mg/L) đến 0,27 mg/L, trong đó chỉ có điểm Cửa sông Ông Đốc có giá trị vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT (cột Vùng nuôi trồng thủy sản, bảo tồn thủy sinh) 2,7 lần.