Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Nam đợt 1/2023

Quan trắc môi trường định kỳ 10/06/2023

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước đợt 1 năm 2023 tại khu vực miền Nam do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Nam thực hiện từ ngày 18/4 đến ngày 29/4 năm 2023. Cơ sở quan trắc bao gồm các thành phần: nước mặt lục địa, nước biển ven bờ, không khí xung quanh, tiếng ồn và cường độ dòng xe. Trong đó, quan trắc được thực hiện tại 120 điểm (bao gồm: 60 điểm quan trắc nước mặt lục địa, 22 điểm quan trắc nước biển ven bờ, 38 điểm quan trắc không khí xung quanh, tiếng ồn và cường độ dòng xe), thuộc địa bàn các tỉnh/thành phố: Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Long An, An Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ.

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Nam đợt 1/2023 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí: 
Thống kê kết quả quan trắc đợt 1/2023 (tháng 4) cho thấy tất cả các giá trị thông số SO2 và thông số NO2 nằm trong giới hạn cho phép theo QCVN 05:2013/BTNMT đối với môi trường không khí xung quanh. Phần lớn các điểm quan trắc ô nhiễm Tổng bụi lơ lửng (TSP) và tiếng ồn (Leq), tập trung chủ yếu tại ngã ba Vũng Tàu, ngã ba Châu Thới, Bãi đá Châu Lăng.
Tại vùng KTTĐ phía Nam, giá trị TSP dao động từ 50 µg/m3 -1.091 µg/m3. Mặt khác, kết quả quan trắc Leq và cường độ dòng xe đợt 1/2023 cho thấy, trung bình các điểm quan trắc đều có giá trị Leq vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (tiếng ồn từ 6 giờ - 21 giờ, khu vực thông thường ≤ 70 dBA)
Tại vùng KTTĐ vùng ĐBSCL, giá trị TSP dao động từ 41 µg/m3 -1.283 µg/m3. Trong khi đó, kết quả quan trắc Leq và cường độ dòng xe đợt 1/2023 cho thấy giá trị Leq trung bình dao động từ 65,1 dBA – 80 dBA. Phần lớn các điểm quan trắc có giá trị ồn vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (Tiếng ồn từ 6 giờ - 21 giờ, khu vực thông thường ≤ 70 dBA).
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt: 
Kết quả quan trắc cho thấy: sông Đồng Nai, sông Thị Vải thuộc LVS Đồng Nai và sông Tiền thuộc hệ thống sông Mê Kông là các sông có chất lượng nước được duy trì ổn định, còn khá tốt; sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ có chất lượng nước xấu nhất trong các sông được quan trắc ở khu vực miền Nam. Cụ thể:
Tại sông Thị Vải, có 100% vị trí quan trắc có giá trị WQI từ 76-90, chất lượng nước ở mức tốt.
Toàn LVS Tiền có 77,8% giá trị WQI từ 76 – 100 (nguồn nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt).
Trên sông Đồng Nai, kết quả tính toán chỉ số chất lượng nước WQI đợt 1/2023 (tháng 4) tại 21 vị trí cho thấy: có 28,6% vị trí chất lượng nước đạt mức rất tốt, giá trị WQI từ 91 – 100 (nguồn nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt), 66,7% vị trí chất lượng nước đạt mức tốt, giá trị WQI từ 76-90 (nguồn nước sử dụng cho cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp) và 4,8% vị trí chất lượng nước đạt mức trung bình, giá trị WQI từ 51 – 75 (nguồn nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương).
Chất lượng nước sông Vàm Cỏ đợt 1/2023 (tháng 4) cho thấy chất lượng nước chủ yếu ở mức xấu đến tốt, giá trị WQI ở mức trung bình đến tốt (WQI từ 51 – 90) chiếm 75%, còn lại 25% giá trị WQI ở mức xấu (26 – 50). Các vị trí có chất lượng nước xấu là do bị ô nhiễm hữu cơ (đặc trưng bởi thông số DO, BOD5, COD) và ô nhiễm dinh dưỡng (đặc trưng bởi thông số N-NH4+, N-NO2- ).
Chất lượng nước sông Sài Gòn đợt 1/2023 chủ yếu ở mức tốt đến trung bình, có 13/16 vị trí chất lượng nước có giá trị WQI ở mức trung bình đến tốt (WQI từ 51 – 100), chiếm 81,3% và có 03/16 vị trí chất lượng nước có giá trị WQI ở mức xấu (WQI từ 26 – 50), chiếm 18,8% do ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng cao (đặc trưng bởi các thông số DO, BOD5, COD và N-NH4+, N-NO2- ).
Hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ và cửa sông:
Hầu hết giá trị các thông số quan trắc đều nằm trong giới hạn quy định theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT (cột vùng bãi tắm, thể thao dưới nước), ngoại trừ thông số TSS và Fe. Cụ thể như sau:
- Giá trị TSS dao động từ 11-370 mg/L và có 9/22 điểm có giá trị vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT lần lượt 1,2 lần và 7,4 lần. 
- Giá trị Fe đợt 1/2023 dao động từ 0,60-8,61 mg/L và tất cả các điểm quan trắc đều có giá trị vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT từ 1,2-17,2 lần.