Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên đợt 5/2023

Quan trắc môi trường định kỳ 01/09/2023

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước đợt 5 năm 2023 được xây dựng trên cơ sở kết quả quan trắc môi trường không khí, nước mặt và nước biển ven bờ (đợt 5/2023) do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Trung và Tây Nguyên thực hiện từ ngày 10/7 đến ngày 19/7 năm 2023. Trong đó, chương trình quan trắc nước mặt (36 điểm) và trầm tích (15 điểm) được thực hiện tại LVS Hương và LVS Vu Gia – Thu Bồn thuộc phạm vi 4 tỉnh/thành phố (Kon Tum, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và Tp Đà Nẵng); chất lượng môi trường nước biển ven bờ và trầm tích nước biển được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 34 điểm thuộc 7 tỉnh/thành phố ven biển miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tp Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) và chất lượng môi trường không khí được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 33 điểm tại địa bàn 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng KTTĐ miền Trung (Thừa Thiên Huế, Tp Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định).

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên đợt 5/2023 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí: có 8/33 vị trí quan trắc có giá trị TSP vượt QCVN 05:2013/BTNMT (QCVN 05) chiếm tỷ lệ 24,2% và có 16/33 vị trí có giá trị tiếng ồn vượt QCVN 26:2010/BTNMT (QCVN 26) chiếm tỷ lệ 51,5%.
Giá trị TSP dao động trong khoảng từ 119 - 353 µg/m3 và có 8/33 điểm (vị trí) có giá trị TSP vượt ngưỡng giới hạn quy định của QCVN 05 (300 µg/m3) theo trung bình 01 giờ, cao nhất tại điểm đo Tây KCN Liên Chiểu – Đà Nẵng và trước ô tô Trường Hải – Quảng Nam (353 µg/m3). 
Biểu đồ 1. Giá trị TSP tại các tỉnh miền Trung đợt 5/2023 và đợt 4/2023
Giá trị tiếng ồn dao động trong khoảng từ 51,8 – 81,5 dBA, cao nhất tại điểm đo Tây KCN Liên Chiểu có giá trị là 81,5 dBA và có 16/33 điểm (vị trí) vượt QCVN 26 (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6 giờ đến 21 giờ, cho khu vực thông thường) chiếm tỷ lệ 51,5%.
Biểu đồ 2. Tiếng ồn khu vực miền Trung đợt 5/2023 và đợt 4/2023
Giá trị SO2 và NO2 tại 33 điểm quan trắc trong đợt 5/2023 đều đạt QCVN 05 theo trung bình 1 giờ (SO2: 350 µg/m3 và NO2: 200 µg/m3). Trong đó: SO2 dao động từ <20 - 38 µg/m3, có 8 vị trí có giá trị SO2 nhỏ hơn LOQ (20 µg/m3) và NO2 dao động từ <10 - 33 µg/m3, có 1 vị trí có giá trị NO2 nhỏ hơn LOQ (10 µg/m3).
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt: Kết quả tính toán giá trị VN_WQI tại 36 điểm quan trắc trên LVS Hương và LVS Vu Gia – Thu Bồn đợt 5/2023 phản ánh chất lượng môi trường nước tương đối tốt. Trong đó: có 14/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 38,9%), 22/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 61,1%).
Biểu đồ 3. Chất lượng môi trường nước theo chỉ số WQI đợt 5/2023
Trong đó, chất lượng nước trên LVS Hương đợt 5/2023 có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 87 – 100, trong khi chất lượng nước trên LVS Vu Gia – Thu Bồn nằm trong khoảng 78 – 96.
Biểu đồ 4. Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt sông Hương đợt 5/2023
Biểu đồ 5. Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt Sông Thu Bồn đợt 5/2023
Biểu đồ 6. Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt trên Sông Vu Gia đợt 5/2023
Nước sông bị ô nhiễm chủ yếu bởi 5 thông số (TSS, COD, BOD5, N-NH4+ và Cl-),:
Giá trị TSS dao động từ <6 – 72 mg/L. Trong đó: có 4/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 11,1% và 3/36 điểm vượt QCVN 08 cột B1, chiếm tỷ lệ 8,3%. 
Giá trị COD dao động từ 8 – 28 mg/L. Trong đó, có 19/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 52,8%; không có điểm nào vượt QCVN 08 cột B1. 
Giá trị BOD5 quan trắc đợt 5/2023 tại 36 điểm có giá trị BOD5 dao động từ 4 – 12 mg/L. Trong đó, có: 27/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 75,0%; không có điểm nào vượt QCVN 08 cột B1. 
Giá trị N-NH4+ dao động từ <0,06 – 0,66 mg/L, có 10/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 27,8%, không có điểm nào vượt QCVN 08 cột B1. 
Giá trị Cl- dao động từ <9 – 9.021 mg/L. Trong đó: có 5/25 điểm quan trắc vượt QCVN 08 cột A2&B1 (350 mg/L), chiếm tỷ lệ 20,0%.
Hiện trạng chất lượng trầm tích: tại 15 điểm quan trắc với các thông Pb, As, Hg và HCBVTV nhóm Clo hữu cơ, kết quả phân tích cho thấy các thông số này đều có giá trị thấp hơn giới hạn cho phép của QCVN 43 về chất lượng trầm tích đáy (cột trầm tích nước ngọt). Trong đó, giá trị kim loại nặng Pb dao động 15,0 – 51,4 mg/kg khô, kim loại nặng As dao động 2,92 – 9,55 mg/kg khô, kim loại nặng Hg có giá trị <0,24 – 0,37 mg/kg khô, HCBVTV Clo hữu cơ đều có giá trị nằm dưới giới hạn của phương pháp phân tích <2,0 µg/kg khô. Hiện tại, chưa có dấu hiệu ô nhiễm các thông Pb, As, Hg, Hóa chất BVTV nhóm Clo hữu cơ trong trầm tích.
Hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ: có 02 thông số (TSS và dầu mỡ khoáng) vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT, cụ thể như sau:
Giá trị TSS dao động từ <6 - 70 mg/L, có 4/34 điểm quan trắc vượt QCVN 10, chiếm tỷ lệ 11,8%.
Dầu mỡ khoáng dao động từ 0,4 - 0,8 mg/L, có 6/10 điểm vượt QCCVN 10 cột 1&2 (0,5 mg/L), chiếm tỷ lệ 60%.
Hiện trạng chất lượng môi trường trầm tích biển: Giá trị của các thông số (Hg, As, Cd, Pb) đều thấp hơn QCVN 43 cột trầm tích nước mặn, nước lợ và chưa có dấu hiệu ô nhiễm. 
Nguyên nhân nước biển ven bờ bị ô nhiễm cục bộ là do ảnh hưởng bởi hoạt động: dịch vụ cảng biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, hoạt động du lịch và nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đạt chuẩn thải ra gây ô nhiễm nước biển ven bờ. 
Chất lượng môi trường trầm tích biển chưa có dấu hiệu ô nhiễm (04 thông số: Hg, As, Cd và Pb), tất cả các điểm quan trắc đều đạt QCVN 43 (cột trầm tích nước mặn, nước lợ).