Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên đợt 3/2023
Quan trắc môi trường định kỳ 10/07/2023
Kết quả quan trắc môi trường không khí và nước tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên đợt 3/2023 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí: có 11/33 điểm có giá trị TSP vượt QCVN 05:2013/BTNMT (QCVN 05) chiếm tỷ lệ 33,3% và 16/33 điểm có giá trị tiếng ồn vượt QCVN 26:2010/BTNMT (QCVN 26) chiếm tỷ lệ 48,5%.
Giá trị TSP dao động trong khoảng từ 142 - 361 µg/m3 và có 11/33 điểm có giá trị TSP vượt ngưỡng giới hạn quy định của QCVN 05 (300 µg/m3) theo trung bình 01 giờ, cao nhất tại điểm đo trước ô tô Trường Hải (361 µg/m3).
Biểu đồ 1. Giá trị TSP tại các tỉnh miền Trung đợt 3/2023 và đợt 2/2023
Giá trị tiếng ồn dao động trong khoảng từ 55,6 - 81,9 dBA, cao nhất tại điểm đo Tây KCN Liên Chiểu có giá trị là 81,9 dBA và có 16/33 điểm vượt QCVN 26 (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6 giờ đến 21 giờ, cho khu vực thông thường) chiếm tỷ lệ 48,5%.
Biểu đồ 2. Tiếng ồn khu vực miền Trung đợt 3/2023 và đợt 2/2023
Giá trị SO2 và NO2 tại 33 điểm quan trắc trong đợt 3/2023 đều đạt QCVN 05 theo trung bình 1 giờ (SO2: 350 µg/m3 và NO2: 200 µg/m3). Trong đó: SO2 dao động từ <20 - 36 µg/m3, có 11 vị trí có giá trị SO2 nhỏ hơn LOQ (20 µg/m3) và NO2 dao động từ <10 - 32 µg/m3, có 1 vị trí có giá trị NO2 nhỏ hơn LOQ (10 µg/m3).
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt: Kết quả tính toán giá trị VN_WQI tại 36 điểm quan trắc trên LVS Hương và LVS Vu Gia – Thu Bồn đợt 3/2023 phản ánh chất lượng môi trường nước khá tốt. Trong đó: có 7/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 19,4%), 29/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 80,6%).
Biểu đồ 3. Chất lượng môi trường nước theo chỉ số WQI đợt 3/2023
Trong đó, chất lượng nước trên LVS Hương đợt 3/2023 có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 86 – 91, trong khi chất lượng nước trên LVS Vu Gia – Thu Bồn có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 85 – 98.
Biểu đồ 4. Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt Sông Thu Bồn đợt 3/2023
Biểu đồ 5. Diễn biến chất lượng môi trường nước mặt trên Sông Vu Gia đợt 3/2023
Nước sông bị ô nhiễm chủ yếu bởi 05 thông số (TSS, COD, BOD5, Fe và Cl-), chủ yếu là do hoạt động nuôi trồng thủy sản, nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đạt chuẩn và ảnh hưởng từ xâm nhập mặn, cụ thể như sau:
Giá trị TSS dao động từ <6 – 86 mg/L. Trong đó: có 4/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 11,1% và 3/36 điểm vượt QCVN 08 cột B1, chiếm tỷ lệ 8,3%.
Giá trị COD dao động từ 10 – 29 mg/L. Trong đó, có: 29/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 80,6%; không có điểm nào vượt QCVN 08 cột B1.
Giá trị BOD5 dao động từ 5 – 14 mg/L. Trong đó, có: 33/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 91,7%; không có điểm nào vượt QCVN 08 cột B1.
Giá trị Fe dao động từ <0,09 – 1,13 mg/L, có 1/36 điểm vượt QCVN 08 cột A2, chiếm tỷ lệ 2,8%, không điểm nào vượt QCVN 08 cột B1.
Giá trị Cl- dao động từ <9 – 9.448 mg/L. Trong đó: có 6/25 điểm quan trắc vượt QCVN 08 cột A2&B1 (350 mg/L), chiếm tỷ lệ 24,0%.
Hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ: Từ kết quả quan trắc môi trường nước biển đợt 3/2023 tại 34 điểm thuộc 07 tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định) cho thấy: có 05 thông số (TSS, N-NH4+, P-PO43-, Fe và dầu mỡ khoáng) vượt QCVN 10-MT:2015/BTNMT, cụ thể như sau:
Giá trị TSS dao động từ 7 - 74 mg/L, có 7/34 điểm quan trắc vượt QCVN 10, chiếm tỷ lệ 20,6%. Giá trị N-NH4+ dao động từ <0,06 – 0,25 mg/L, có 7/34 điểm quan trắc vượt QCVN 10 cột 1 (0,1 mg/L), chiếm tỷ lệ 20,6%.
Giá trị P-PO43- dao động từ <0,03 – 0,37 mg/L. Trong đó, có 1/34 điểm quan trắc vượt QCVN 10 cột 1 (0,2 mg/L), và cột 2 (0,3 mg/L), chiếm tỷ lệ 2,9%.
Giá trị Fe dao động từ <0,3 – 0,6 mg/L, có 2/34 điểm quan trắc vượt QCVN 10 cột 1&2 (0,5 mg/L), chiếm tỷ lệ 5,9%.
Dầu mỡ khoáng dao động từ <0,3 – 0,9 mg/L, có 3/10 điểm vượt QCVN 10 cột 1&2 (0,5 mg/L), chiếm tỷ lệ 30%.
Nguyên nhân nước biển ven bờ bị ô nhiễm cục bộ là do ảnh hưởng bởi hoạt động: dịch vụ cảng biển, dịch vụ hậu cần nghề cá, hoạt động du lịch và nước thải sinh hoạt chưa được xử lý đạt chuẩn thải ra gây ô nhiễm nước biển ven bờ.
TIN LIÊN QUAN
- BÁO CÁO TÓM TẮT CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN Tháng 11 năm 2025
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 10/2025, tháng 11/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 5, tháng 10/2025)
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 9/2025, tháng 10/2025) Hà Nội, tháng 11/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 4, tháng 10/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 3, tháng 9/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 8/2025, tháng 9/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 2, tháng 9/2025)
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 7/2025, tháng 8/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 1, tháng 8/2025)