Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Trung và Tây Nguyên đợt 7 năm 2024

Quan trắc môi trường định kỳ 28/09/2024

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước được xây dựng trên cơ sở kết quả quan trắc môi trường không khí, nước mặt và nước biển ven bờ (đợt 7/2024) do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Trung và Tây Nguyên thực hiện. Trong đó, chương trình quan trắc nước mặt (36 điểm) được thực hiện tại LVS Hương và LVS Vu Gia – Thu Bồn thuộc phạm vi 4 tỉnh/thành phố (Kon Tum, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế và Tp Đà Nẵng); chất lượng môi trường nước biển ven bờ được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 34 điểm thuộc 7 tỉnh/thành phố ven biển miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tp Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) và chất lượng môi trường không khí được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 33 điểm tại địa bàn 5 tỉnh, thành phố thuộc vùng KTTĐ miền Trung (Thừa Thiên Huế, Tp Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định).

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Trung và Tây Nguyên đợt 7 năm 2024 như sau:

Hiện trạng chất lượng môi trường không khí

Qua kết quả quan trắc môi trường không khí đợt 7/2024 tại 5 tỉnh miền Trung cho thấy: chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm bởi bụi TSP và tiếng ồn tại các điểm quan trắc gần trục giao thông lớn, gần các Khu công nghiệp. Các thông số NO2, SO2 và CO có giá trị thấp, đạt QCVN 05:2023/BTNMT (QCVN 05).

Tổng bụi lơ lửng: Giá trị TSP dao động trong khoảng từ 107 - 339 µg/Nm3 và có 2/33 điểm (vị trí) có giá trị TSP vượt ngưỡng giới hạn quy định QCVN 05 (300 µg/Nm3) theo trung bình 01 giờ, cao nhất tại điểm đo Đông Nam KCN Phú Bài (339 µg/Nm3).

 So với đợt 6/2024: TSP có biến động giảm về giá trị và số điểm vượt QCVN 05 (đợt 6/2024: giá trị TSP dao động trong khoảng từ 146 - 345 µg/Nm3 và có 6/33 điểm có giá trị TSP vượt QCVN 05).

So với thời điểm quan trắc cùng kỳ năm trước (đợt 7/2023), TSP có biến động tăng nhẹ về giá trị nhưng giảm số điểm vượt QCVN 05 (đợt 7/2023: giá trị TSP dao động trong khoảng từ 103 - 337 µg/Nm3 và có 6/33 điểm có giá trị TSP vượt QCVN 05).

Biểu đồ 2 và 3 cho thấy, tại 2 điểm quan trắc tại các Khu công nghiệp, Khu kinh tế, giao thông đô thị: Đông Nam KCN Phú Bài (339 µg/Nm3) và Ngã 5 đầu đường Trần Bình Trọng (309 µg/Nm3) có giá trị TSP vượt ngưỡng QCVN 05 (300 µg/Nm3).

Tiếng ồn: giá trị tiếng ồn đợt 7/2024 dao động trong khoảng từ 52,5 – 81,7 dBA, cao nhất tại điểm đo Tây KCN Liên Chiểu có giá trị là 81,7 dBA và có 16/33 điểm (vị trí) vượt QCVN 26 (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6 giờ đến 21 giờ, cho khu vực thông thường) chiếm tỷ lệ 48,5%.

So với đợt 6/2024: tiếng ồn có biến động giảm nhẹ về giá trị và không có biến động về số điểm (vị trí) vượt QCVN 26 (đợt 6/2024: giá trị tiếng ồn dao động trong khoảng từ 53,5 – 81,9 dBA và có 16/33 điểm (vị trí) vượt QCVN 26 chiếm tỷ lệ 48,5%.

So với đợt 7/2023: tiếng ồn có biến động giảm về giá trị và tăng về số điểm (vị trí) vượt QCVN 26 (đợt 7/2023: giá trị tiếng ồn dao động trong khoảng từ 52,3 - 81,8 dBA và có 15/33 điểm (vị trí) vượt QCVN 26 chiếm tỷ lệ 45,5%)

Lưu huỳnh dioxit (SO2), Carbon monoxide (CO) và Nitơ dioxit (NO2): Giá trị SO2, CO và NO2 tại 33 điểm quan trắc trong đợt 7/2024 đều đạt QCVN 05 theo trung bình 1 giờ (SO2: 350 µg/Nm3, CO: 30.000 µg/Nm3 và NO2: 200 µg/Nm3). Trong đó: SO2 dao động từ <20 - 73 µg/Nm3, có 1 vị trí có giá trị SO2 nhỏ hơn LOQ (20 µg/Nm3); CO dao động từ 5.423 – 10.191 µg/Nm3 và NO2 dao động từ 13 - 53 µg/Nm3. Nhìn chung, kết quả quan trắc SO2, NO2 và CO có biến động tăng so với đợt 6/2024 (SO2 dao động từ <20 - 55 µg/Nm3, có 6 vị trí có giá trị SO2 nhỏ hơn LOQ (20 µg/Nm3); NO2 dao động từ 10 - 37 µg/Nm3, có 2 vị trí có giá trị NO2 nhỏ hơn LOQ (10 µg/Nm3); CO dao động từ 4.995 – 9.392 µg/Nm3) và kết quả SO2, NO2 có biến động tăng so với đợt 7/2023 (SO2 dao động từ <21 - 44 µg/Nm3, có 6 vị trí có giá trị SO2 nhỏ hơn LOQ (21 µg/Nm3) và NO2 dao động từ <10 - 36 µg/Nm3, có 3 vị trí có giá trị NO2 nhỏ hơn LOQ (10 µg/Nm3)).

Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt

Kết quả tính toán giá trị VN_WQI tại 36 điểm quan trắc trên LVS Hương và LVS Vu Gia – Thu Bồn đợt 7/2024 phản ánh chất lượng môi trường nước tốt, chỉ số VN_WQI chất lượng nước dao động từ 86 – 100, trong đó: có 31/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 86,1%), 5/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 13,9%).

Chất lượng nước đợt 7/2024 có xu hướng tốt hơn so với đợt 6/2024 (đợt 6/2024: chỉ số VN_WQI chất lượng nước dao động từ 58 – 100, trong đó: có 31/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 86,1%), 3/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 8,3%), 2/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (chiếm tỷ lệ 5,6%).

Chất lượng nước đợt 7/2024 có xu hướng tốt hơn so với đợt 7/2023 (đợt 7/2023: chỉ số VN_WQI chất lượng nước dao động từ 72 – 99, trong đó: có 19/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 52,8%), 16/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 44,4%), 1/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (chiếm tỷ lệ 2,8%).

Chi tiết diễn biến chất lượng nước trên 02 LVS như sau:

LVS Hương:

Chất lượng nước trên LVS Hương đợt 7/2024 có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 86 – 100, có 5/6 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 83,3%), 1/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 16,7%).

Chất lượng nước đợt 7/2024 suy giảm so với đợt 6/2024 (đợt 6/2024: có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 99 – 100, có 6/6 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.

Chất lượng nước đợt 7/2024 tốt hơn so với đợt 7/2023 (đợt 7/2023: có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 88 – 97, có 4/6 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 66,7%) và 2/6 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 33,3%).

LVS Vu Gia - Thu Bồn:

Chất lượng nước trên LVS Vu Gia – Thu Bồn đợt 7/2024 có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 89 – 100, có 26/30 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 86,7%), 4/30 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 13,3%).

Chất lượng nước đợt 7/2024 tốt hơn so với đợt 6/2024 (đợt 6/2024: có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 58 – 100, có 25/30 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 83,3%), 3/30 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 10,0%), 2/30 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (chiếm tỷ lệ 6,7%)).

Chất lượng nước đợt 7/2024 tốt hơn so với đợt 7/2023 (đợt 7/2023: có giá trị VN_WQI nằm trong khoảng 72 – 99, có 15/30 điểm có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 50,0%), 14/30 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 46,7%), 1/30 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (chiếm tỷ lệ 3,3%)).

Qua kết quả quan trắc chất lượng nước mặt đợt 7/2024 cho thấy: có 3/13 thông số (Fe, Mn và Cl-) vượt giá trị giới hạn tối đa các thông số ảnh hưởng tới sức khỏe con người (Bảng 1, QCVN 08:2023/BTNMT), cụ thể như sau:

- Giá trị Fe: Kết quả quan trắc đợt 7/2024 tại 36 điểm, có giá trị Fe dao động từ <0,09 – 0,84 mg/L. Tại 36 điểm quan trắc đợt 7/2024, có 2/36 điểm vượt QCVN 08, chiếm tỷ lệ 5,6%.

So với đợt 6/2024 thì giá trị Fe tăng về giá trị và số điểm vượt QCVN 08 (đợt 6/2024: giá trị Fe dao động từ <0,09 – 0,43 mg/L, không có  điểm nào vượt QCVN 08).

So với đợt 7/2023 thì giá trị Fe tăng nhẹ về giá trị nhưng không có biến động số điểm vượt QCVN 08 (đợt 7/2023: giá trị Fe dao động từ <0,09 – 0,78 mg/L, có 2/36 điểm vượt QCVN 08, chiếm tỷ lệ 5,6%).

- Giá trị Mn: Kết quả quan trắc đợt 7/2024 tại 36 điểm, có giá trị Mn dao động từ <0,09 – 0,20 mg/L. Trong đó, có 1/36 điểm vượt QCVN 08, chiếm tỷ lệ 2,8%. So với đợt 6/2024 thì giá trị Mn tăng nhẹ về giá trị nhưng không có biến động số điểm vượt QCVN 08 (đợt 6/2024: giá trị Mn dao động từ <0,09 – 0,18 mg/L, có 1/36 điểm vượt QCVN 08, chiếm tỷ lệ 2,8%).

- Giá trị Cl-: Kết quả quan trắc đợt 7/2024 tại 36 điểm trên LVS Vu Gia – Thu Bồn và LVS Hương có giá trị Cl- dao động từ <9 – 4.316 mg/L, cao nhất tại Cửa Đại – sông Thu Bồn là 4.316 mg/L. Trong đó: có 6/36 điểm quan trắc vượt QCVN 08 (250 mg/L), chiếm tỷ lệ 16,7%.

So với đợt 6/2024 thì giá trị Cl- có xu hướng giảm về giá trị nhưng tăng nhẹ số điểm vượt QCVN 08 (đợt 6/2024: giá trị Cl- dao động từ <9 – 6.421 mg/L, có 5/36 điểm quan trắc vượt QCVN 08 (250 mg/L), chiếm tỷ lệ 13,9%).

So với đợt 7/2023 thì giá trị Cl- có xu hướng giảm về giá trị nhưng không có biến động số điểm vượt QCVN 08 (đợt 7/2023: giá trị Cl- dao động từ <9 – 8.361 mg/L, có 6/25 điểm quan trắc vượt QCVN 08 (250 mg/L), chiếm tỷ lệ 24,0%).

Kết quả phân tích đợt 7/2024 các thông số phục vụ cho việc phân loại chất lượng nước sông và bảo vệ môi trường sống dưới nước tại 36 điểm quan trắc cho thấy:

Chất lượng nước trên LVS Hương tại các điểm quan trắc đạt loại A đối với 03 thông số: pH, DO và TSS chiếm tỷ lệ 100%; thông số tổng N: có 6/6 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 100%; thông số BOD5: có 4/6 điểm đạt loại A, chiếm tỷ lệ 66,7%, 1/6 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 16,7% và 1/30 điểm đạt loại C, chiếm tỷ lệ 16,7%; thông số COD: có 2/6 điểm đạt loại A, chiếm tỷ lệ 33,3%, 3/6 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 50,0% và 1/6 điểm đạt loại D, chiếm tỷ lệ 16,7%; thông số tổng P: có 4/6 điểm đạt loại A, chiếm tỷ lệ 66,7% và  2/30 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 33,3%.

Trên LVS Vu Gia – Thu Bồn, chất lượng nước đạt loại A đối với thông số 02 thông số: pH và DO, chiếm tỷ lệ 100%; thông số BOD5: có 22/30 điểm đạt loại A, chiếm tỷ lệ 73,3%, 7/30 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 23,3% và 1/30 điểm đạt loại C, chiếm tỷ lệ 3,3%; thông số tổng N: có 20/30 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 66,7%, 8/30 điểm đạt loại C, chiếm tỷ lệ 26,7% và 2/30 điểm đạt loại D, chiếm tỷ lệ 6,7%; thông số tổng P: có 5/30 điểm đạt loại A, chiếm tỷ lệ 16,7%, 10/30 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 33,3%, 11/30 điểm đạt loại C, chiếm tỷ lệ 36,7% và 4/30 điểm đạt loại D, chiếm tỷ lệ 13,3%; thông số TSS: có 23/30 điểm đạt loại A, chiếm tỷ lệ 76,7% và 7/30 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 23,3%; thông số COD: có 18/30 điểm đạt loại A, chiếm tỷ lệ 60,0%, 10/30 điểm đạt loại B, chiếm tỷ lệ 33,3% và 2/30 điểm đạt loại C, chiếm tỷ lệ 6,7%.

Hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ

Từ kết quả quan trắc môi trường nước biển đợt 7/2024 tại 34 điểm thuộc 07 tỉnh, thành phố duyên hải miền Trung cho thấy: chất lượng nước biển không bị ô nhiễm bởi tất cả thông số có trong Chương trình quan trắc nước biển ven bờ năm 2024.

Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường, chỉ số chất lượng môi trường khu vực miền Trung và Tây Nguyên đợt 7 năm 2024 cho thấy:

- Môi trường không khí: Các thông số phân tích (NO2, CO và SO2) đều nằm trong giới hạn quy định của QCVN 05:2023/BTNMT. Ô nhiễm bụi và tiếng ồn tập trung chủ yếu ở các trục đường giao thông và gần các khu vực có hoạt động sản xuất công nghiệp. Chất lượng môi trường không khí đợt 7/2024 tốt hơn so với đợt 6/2024 và suy giảm hơn so với đợt 7/2023.

- Môi trường nước mặt: Chất lượng nước mặt tại LVS Vu Gia – Thu Bồn và LVS Hương đợt 7/2024 có chỉ số VN_WQI chất lượng nước dao động từ 86 – 100, trong đó: có 31/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 86,1%), 5/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 13,9%).

Chất lượng nước đợt 7/2024 có xu hướng tốt hơn so với đợt 6/2024 (đợt 6/2024: chỉ số VN_WQI chất lượng nước dao động từ 58 – 100, trong đó: có 31/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 86,1%), 3/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 8,3%), 2/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (chiếm tỷ lệ 5,6%).

Chất lượng nước đợt 7/2024 có xu hướng tốt hơn so với đợt 7/2023 (đợt 7/2023: chỉ số VN_WQI chất lượng nước dao động từ 72 – 99, trong đó: có 19/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt (chiếm tỷ lệ 52,8%), 16/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp (chiếm tỷ lệ 44,4%), 1/36 điểm quan trắc có chất lượng nước sử dụng cho mục đích tưới tiêu và các mục đích tương đương khác (chiếm tỷ lệ 2,8%).

Qua kết quả quan trắc nhóm thông số đánh giá ảnh hưởng tới sức khoẻ con người tại thời điểm quan trắc vừa qua cho thấy: có 3/13 thông số (Fe, Mn và Cl-) vượt giá trị giới hạn tối đa cho phép của Bảng 1, QCVN 08:2023/BTNMT. Kết quả quan trắc nhóm các thông số phục vụ phân loại chất lượng nước sông và bảo vệ môi trường sống dưới nước tại thời điểm quan trắc cho thấy: 0/36 điểm quan trắc đạt loại A, 18/36 điểm quan trắc đạt loại B, 11/36 điểm quan trắc đạt loại C, 7/36 điểm quan trắc đạt loại D.

- Môi trường nước biển ven bờ: Chất lượng môi trường nước biển ven bờ đợt 7/2024 tốt hơn so với đợt 6/2024 và đợt 7/2023. Nước biển ven bờ chưa ghi nhận ô nhiễm bởi tất cả thông số có trong Chương trình quan trắc nước biển ven bờ năm 2024.