Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 8 năm 2024

Quan trắc môi trường định kỳ 10/12/2024

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước được xây dựng trên cơ sở kết quả quan trắc Đợt 8 (tháng 11/2024) do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc thực hiện. Trong đó, chất lượng môi trường không khí xung quanh được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 31 điểm quan trắc thuộc địa bàn các tỉnh vùng KTTĐ phía Bắc và một số điểm nóng về ô nhiễm môi trường không khí xung quanh tại một số khu đô thị, KCN… trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; chất lượng môi trường nước đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 185 điểm quan trắc môi trường nước mặt thuộc 05 lưu vực sông (LVS Cầu, LVS Nhuệ - Đáy, LVS Mã - Chu, LVS Hồng - Thái Bình, Đà và LVS Cả - La); 25 điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ dọc các tỉnh ven biển khu vực miền Bắc bao gồm các tỉnh/thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 8 năm 2024 như sau:

Hiện trạng chất lượng môi trường không khí

Thời gian quan trắc đợt 8 (tháng 11/2024) thực hiện từ ngày 04 tháng 11 đến hết ngày 19 tháng 11 năm 2024, thời điểm quan trắc có nền nhiệt độ trung bình tại các điểm quan trắc khá cao. Nhiệt độ trung bình tại các điểm quan trắc dao động trong khoảng 21,5 - 33,8oC, độ ẩm tương đối dao động từ 47,5 – 75,3%, áp suất chênh lệch từ 1002,9– 1.021,7 hPa. Hướng gió chủ đạo là hướng Tây và Tây Nam (chiếm 26% mỗi loại), vận tốc gió trung bình là 2,3m/s, dao động trong khoảng 1,1 ÷ 3,7m/s.

Thống kê kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn đợt 8 (tháng 11/2024) cho thấy, trong 7 thông số quan trắc quan trắc môi trường không khí xung quanh (TSP, CO, NO2, SO2, Pb, PM2.5) và Tiếng ồn kết quả quan trắc thông số tiếng ồn có giá trị vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT tại 52/93 lần quan trắc chiếm tỷ lệ 55,9%, thông số PM2,5 có 4/9 giá trị vượt chuẩn chiếm tỷ lệ 44% Các thông số quan trắc còn lại đều có chất lượng tốt và đạt theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 05:2023/BTNMT) TB 1h;

Trong thời gian quan trắc đợt 8 (tháng 11/2024), kết quả quan trắc thông số TSP khá thấp, tất cả các vị trí quan trắc có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Giá trị TSP tại các vị trí quan trắc dao động từ 131,7 – 202,3 µg/Nm3, giá trị quan trắc TSP cả đợt 8 và đợt 7 tại các vị trí quan trắc đều thấp và đạt theo quy chuẩn QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Giá trị quan trắc trung bình tại các điểm quan trắc tại đợt 8 tương đồng so với kết quả quan trắc đợt 7/2024.

Tại các vị trí quan trắc xung quanh các KCN vào thời điểm quan trắc đợt 8 (tháng 11/2024), ghi nhận tất cả các vị trí quan trắc có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h), giá trị TSP tại các vị trí dao động từ 172-202 µg/Nm3. Giá trị quan trắc tại các điểm quan trắc đợt 8/2024 có giá trị tương đồng so với đợt 7/2024, giá trị dao động giữa 2 đợt không chênh lệch nhiều (đợt 7 giao động từ 183-224 µg/Nm3 và đợt 8 là 172-202 µg/Nm3).

Tại các nút giao thông hay các khu dân cư, thời điểm quan trắc đợt 8/2024 ghi nhận giá trị TSP quan trắc được đều nhỏ hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) và không có nhiều biến động so với đợt 7/2024. Giá trị TSP tại khu vực giao thông dao động từ 132-195 µg/Nm3, vị trí quan trắc có giá trị lớn nhất tại khu vực bến xe Hà Đông cũ (trên đường Nguyễn Trãi) và các vị trí quan trắc có giá trị thấp nhất tại tỉnh Hà Tĩnh. Tại một số khu vực dân cư phía Bắc giá trị TSP quan trắc được dao động từ 149-188 µg/Nm3, tại khu vực dân cư phố Trần Hưng Đạo – Hải Dương cho giá trị TSP thấp nhất so với các khu vực còn lại.

Đối với các thông số quan trắc khác (CO, Pb, SO2, NO2) thời điểm quan trắc Đợt 8 (tháng 11/2024) đều cho kết quả nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) lần lượt đối với CO là 30.000 µg/Nm3; NO2 là 200 µg/Nm3; SO2 là 350 µg/Nm3. Giá trị các thông số quan trắc đợt 8/2024 đều tương đồng so với quan trắc Đợt 7/2024.

Kết quả quan trắc tiếng ồn, Đợt 8/2024 có 52/91 giá trị (16/31 điểm quan trắc) có giá trị tiếng ồn vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h). Số giá trị và điểm đo có giá trị vượt quy chuẩn của đợt 8/2024 tương đương so với đợt 7/2024 (17/31 điểm quan trắc).

Kết quả quan trắc thông số bụi PM2,5, trong đợt 8-2024 có 04/9 mẫu có kết quả vượt phép theo QCVN 05: 2023/BTNMT (50 µg/Nm3) và nhiều hơn so với đợt 7/2024 (0/9 mẫu). Giá trị quan trắc các mẫu Bụi PM2,5 dao động trong khoảng 30,10 – 59,50 µg/Nm3.

Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước Đợt 8 (tháng 11/2024) trên 05 lưu vực sông (LVS) tại khu vực phía Bắc cho thấy, giá trị các thông số quan trắc đạt mức A (chất lượng nước tốt) có sự chênh lệnh khá lớn giữa các thông số, tỷ lệ dao động từ 13,0-99,5%, trong đó thấp nhất là thông số Tổng N (TN) có  13,0% giá trị quan trắc đạt mức A, thông số cao nhất là pH có 99,5% giá trị quan trắc đạt mức A. Từ kết quả này cho thấy, nước sông tại khu vực phía Bắc quan trắc Đợt 8/2024 tiếp tục bị ô nhiễm nhiều nhất đối với nhóm thông số dinh dưỡng. 

Qua kết quả quan trắc Đợt 8/2024 cho thấy, chất lượng môi trường nước mặt trên các LVS khác nhau có sự khác nhau, cụ thể:

Chất lượng môi trường nước lưu vực sông Cầu

Trên dòng chính sông Cầu, thời điểm quan trắc Đợt 8 (tháng 11/2024) có kết quả thông số pH có 95,5% các giá trị đạt mức A và 4,5% đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số DO có 23% các giá trị đạt mức A và 45% mức B, và 32% các giá trị đạt mức C, D theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số TSS có 73% các giá trị đạt mức A và 27% các giá trị đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số COD có 59% đạt mức tốt (mức A), 27% đạt mức B và 14% đạt mức C, D; thông số BODcó 59% giá trị đạt mức tốt (mức A), 23 % giá trị đạt mức B, 18 % giá trị đạt mức C, D; thông số TP có 45% các giá trị đạt mức A, 18% các giá trị đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT, thông số TN tiếp tục là thông số có chất lượng ở mức thấp nhất với 45% giá trị đạt mức trung bình (mức B), 55% giá trị còn lại ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

So với thời điểm quan trắc Đợt 7/2024, các thông số pH, TSS quan trắc vào Đợt 8/2024 trên nhánh chính sông Cầu có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) cao hơn so với thời điểm quan trắc đợt 7/2024, các thông số DO, COD, BOD5, TN và TP quan trắc vào đợt 8/2024 có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) thấp hơn so với thời điểm quan trắc đợt 7/2024. Như vậy, trong thời điểm quan trắc vào Đợt 8/2024 chất lượng nhiều thông số trên các sông tại khu vực phía bắc kém hơn so với Đợt 7/2024.

Chất lượng môi trường nước trên dòng chính sông Cầu thời điểm quan trắc Đợt 8 (tháng 11/2024) đối với các thông số pH, TSS, COD, BOD5 hầu hết đạt mức trung bình đến tốt đồng đều trên cả tuyến sông, ngoại trừ các vị trí quan trắc tại Phúc Lộc Phương, Hương Lâm, Hòa Long, Hiền Lương có giá trị thông số COD, BOD5 trong ngưỡng mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số DO có chất lượng không tốt tại một số vị trí từ Sơn Cẩm đến Tân Phú có chất lượng mức C theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, các đoạn còn lại có chất lượng khá tốt ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số TN từ điểm thượng nguồn Dương Phong đến đập Thác Huống có chất lượng ở mức trung bình (mức B), các điểm từ cầu Trà Vườn đến Yên Dũng có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số TP thượng nguồn từ Dương Phong đến đập Thác Huống có chất lượng ở mức tốt (mức A), đoạn còn lại từ cầu Trà Vườn đến Yên Dũng có 2 điểm chất lượng ở mức tốt (mức A), 2 điểm ở mức trung bình (mức B), 8 điểm quan trắc còn lại ở mức xấu (mức C) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Trên các phụ lưu của Lưu vực sông Cầu (sông Công, sông Nghinh Tường và sông Thương tại Hải Dương), các thông số quan trắc trên sông Công hầu hết đều có giá trị chất lượng nước ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT ngoại trừ 1 số vị trí với các thông số TP tại cầu Bình Sơn, Mỏ Chè và cầu Bến Đẫm, thông số TN tại các vị trí tại cầu Bình Sơn, Mỏ Chèm, cầu Bến Đẫm và cầu Đa Phúc có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu, Các nhánh sông còn lại thông số DO từ điểm cầu Loàng đến xuối Cam Giá có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu (mức A, B). Thông số TN và TP từ điểm cầu Loàng đến điểm Phả Lại tại Hải Dương có chất lượng ở mức xấu đến mức rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Như vậy, các nhánh sông còn lại các thông số DO, TP và TN tại nhiều điểm có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) điều đó phản ánh nước sông tại các điểm quan trắc trên các phụ lưu sông Cầu bị ô nhiễm bởi nhóm thông số dinh dưỡng và hữu cơ.

Trên Sông Ngũ Huyện Khê, tại điểm quan trắc ở cầu Đào Xá các thông số DO, COD, BOD5, TN có chất lượng ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, thông số TSS chất lượng ở mức tốt (mức A) và thông số TP có chất lượng ở mức trung bình (mức B). Các điểm quan trắc còn lại cầu Song Thát và Văn Môn cũng trong tình trạng bị ô nhiễm các thông số TN, COD và BOD5 đều có chất lượng ở mức xấu và rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số pH, TSS, TN và TP có chất lượng tương tự như Đợt 7/2024, các thông số còn lại DO, COD và BOD5 có chất lượng suy giảm hơn so với đợt Đợt 7/2024.

Chất lượng môi trường nước trên LVS Nhuệ, Đáy

LVS Nhuệ, Đáy tiếp tục là LVS cho kết quả quan trắc với nhiều thông số có giá trị ở mức rất xấu nhiều nhất (mức D) so với các LVS thực hiện quan trắc ở khu vực phía Bắc. Trong đó, thông số pH và TSS tại hầu hết các vị trí quan trắc đều có chất lượng ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT, các thông số quan trắc còn lại DO, COD, BOD5, TN và TP có đến trên 40% giá trị thông số ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT và ít có sự biến động so với kết quả quan trắc Đợt 7 (tháng 9/2024).

Tương tự như các LVS khác, chất lượng nước trên LVS Nhuệ, Đáy cũng có sự phân hóa theo dòng chảy và có sự chênh lệch lớn về mức độ ô nhiễm giữa các đoạn sông chảy qua khu vực đô thị và làng nghề với các đoạn sông khác, cụ thể: Trên dòng chính sông Nhuệ, thông số TN, TP của 2 đợt quan trắc (Đợt 7 và Đợt 8) năm 2024 cho kết quả phân tích trên 90% các giá trị ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT, thông số DO cho kết quả trên 70% các giá trị ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số COD, BOD5 Đợt 8 cho kết quả trên 80% ở rất mức xấu và rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT và chất lượng có xu hướng giảm hơn so với Đợt 7/2024. Nhìn chung, môi trường nước trên sông Nhuệ vẫn tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ, hợp chất dinh dưỡng và kết quả quan trắc Đợt 8/2024 (tháng 11/2024) cho thấy nhiều thông số có chất lượng suy giảm hơn so với quan trắc Đợt 7/2024 (tháng 9/2024).  

Sông Đáy, đoạn chảy qua địa phận Tp. Hà Nội nước sông chỉ sử dụng được cho mục đích sản xuất công nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý hoặc giao thông thủy và các mục đích có yêu cầu sử dụng nước thấp, giá trị các thông số DO, TN, TP phần lớn các điểm quan trắc ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Nước sông Đáy được cải thiện dần khi về phía khu vực hạ lưu sông tại xi măng Việt Trung (đoạn qua tỉnh Hà Nam), trong đó 100% các giá trị pH đạt mức tốt và trung bình. Các thông số quan trắc pH, DO, TSS, COD, BOD5 đoạn từ xi măng Việt Trung đến Cửa Đáy hầu như tất cả các điểm quan trắc đều đạt chất lượng mức trung bình đến mức tốt (mức A, B). Thông số TN tại tất cả các điểm quan trắc trên sông Nhuệ có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số TP từ thượng nguồn tại cầu Mai Lĩnh đến Trung Hiếu Hạ có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, các điểm quan trắc còn lại từ Gián Khẩu đến cửa Đáy đều có chất lượng tốt đến rất tốt (mức A, B). Nhìn chung chất lượng nước trên sông Đáy thời điểm quan trắc Đợt 8 (tháng 11/2024) ít biến động so với thời điểm quan trắc Đợt 7 (tháng 9/2024).

Trên các phụ lưu sông Hoàng Long (Ninh Bình), sông Đào (Nam Định), các thông số quan trắc pH, DO, TSS, COD, BOD5, TN, TP hầu như đều cho kết quả chất lượng nước đạt mức trung bình đến mức tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Ngoại trừ thông số TN tiếp tục bị ô nhiễm và có nhiều giá trị TN ở mức xấu và rất xấu (mức C, D) trên các phụ lưu thuộc LVS Nhuệ Đáy.

Trên sông Châu Giang, các điểm cầu Phủ Lý, Cầu Sắt, Hữu Bị chất lượng nước sông ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT đối với giá trị các thông số COD, BOD5, TN, TP. Như vậy, trên các phục lưu thuộc sông Nhuệ Đáy, nhánh sông Châu Giang có nhiều thông số quan trắc có chất lượng kém nhất, nguyên nhân có thể là do nhánh sông này phải tiếp nhận một phần nguồn nước từ sông Nhuệ.

Các sông nội thành Hà Nội Đợt 8/2024 tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ, dinh dưỡng và chưa có dấu hiệu được cải thiện so với Đợt 7/2024. Toàn bộ các điểm quan trắc trên các sông nội thành Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu) cho kết quả giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN, TP ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số quan trắc DO, COD, BOD5, TN, TP trong Đợt 7 và 8/2024 đều có 100% các giá trị ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà

Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà Đợt 8/2024 ít biến động so với thời điểm quan trắc Đợt 7/2024, phần lớn các thông số quan trắc duy trì mức tốt đến mức trung bình, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Các thông số pH, DO, COD, BOD5, TP trong Đợt 8 có 100% tỷ lệ chất lượng các điểm quan trắc đạt chất lượng ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Như vậy, có thể thấy trên LVS Hồng quan trắc vào Đợt 8/2024 chất lượng nước vẫn đang được duy trì ở mức tốt.

Trên các phụ lưu (sông Đà, sông Lô, sông Thái Bình), môi trường nước sông vẫn được duy trì ở mức tốt, các thông số quan trắc đều đạt ở ngưỡng trung bình đến mức tốt theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước LVS Mã - Chu

Chất lượng môi trường nước trên LVS Mã - Chu Đợt 8/2024 có chất lượng tốt, ngoại trừ duy nhất thông số TN tại điểm cửa Hới có chất lượng ở mức xấu, tất cả các thông số pH, DO, TSS, COD, BOD5, TN, TP tại các điểm quan trắc đều cho kết quả ở mức tốt đến mức trung bình (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Nhìn chung chất lượng môi trường nước LVS Mã - Chu duy trì mức tốt trong Đợt 8/2024. So với thời điểm quan trắc vào Đợt 7/2024, thông số TSS trong Đợt 8/2024 có chất lượng tốt hơn rất nhiều, các thông số pH, DO, COD, BOD5, TN, TP có chất lượng tương tự.

Chất lượng môi trường nước sông La, sông Lam

Trên sông Cả La và các phụ lưu, thời điểm quan trắc Đợt 8/2024 cho kết quả phần lớn các điểm quan trắc có giá trị các thông số đạt ở mức tốt đến mức trung bình (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cần biện pháp xử lý theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Nhìn chung, kết quả quan trắc Đợt 8/2024 cho thấy tất cả các thông số quan trắc đều có giá trị khá tương đồng so với Đợt 7/2024.

Trên sông Lam và các phụ lưu cho thấy, phần lớn các điểm quan trắc có giá trị các sông số ở ngưỡng A và B, chất lượng môi trường nước ở mức tốt đến mức trung bình, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Duy nhất tại điểm sông Vinh tại cầu Bến Thủy 2 có thông số TN và TP có chất lượng ở mức xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, tất cả các điểm quan trắc còn lại các thông số đều có chất lượng ở mức trung bình đến tốt.

Nhìn chung, kết quả quan trắc trên sông Lam và các phụ lưu Đợt 8/2024 cho thấy các thông số khá tương đồng so với Đợt 7/2024. Thông số TSS có chất lượng cải thiện tốt hơn so với Đợt 7/2024.

Hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ

Chất lượng môi trường nước biển ven bờ Đợt 8/2024 cho thấy, các thông số quan trắc pH, DO, TSS đều có chất lượng đạt so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT- Bảng 1 giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT.

Thông số N-NH4+ Đợt 8/2024 cho thấy chỉ có điểm quan trắc tại cửa Lèn có giá trị đạt so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT, tất cả các điểm quan trắc còn lại đều vượt so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT. Nhìn chung thông số N-NH4+ quan trắc vào Đợt 8/2024 có nhiều giá trị vượt Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT hơn so với Đợt 7/2024, tuy nhiên không có nhiều điểm có giá trị quan trắc cao đột biến.

Thôn số Fe môi trường nước biển Đợt 8/2024 có 1 điểm quan trắc có giá trị vượt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT tại cửa Lèn, các điểm quan trắc còn lại đều có giá trị đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT. Thông số Fe quan trắc môi trường nước nước biển ven bờ trong Đợt 8/2024 có chất lượng không tốt bằng so với Đợt 7/2024.

Môi trường nước biển ven bờ đối với các thông số quan trắc còn lại Pb, Cd, As, Hg, Tổng Cr, tổng Phenol trong đợt Đợt 8/2024 cho thấy, tất cả các giá trị quan trắc đều đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT-Bảng 1 giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước.

Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường, chỉ số chất lượng môi trường khu vực miền Bắc đợt 8/2024 cho thấy:

- Chất lượng môi trường không khí xung quanh tại các địa phương khu vực miền Bắc đối với các thông số (TSP, CO, NO2, SO2) đều đạt giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) tiếp tục duy trì mức tốt như thời điểm quan trắc Đợt 7 (tháng 9/2024). Thông số PM2,5 và Tiếng ồn trong Đợt 8 có nhiều giá trị vượt so với giá trị giới hạn tối đa theo QCVN 05:2023/BTNMT và QCVN 26:2010/BTNMT (khung thời gian từ 6-21h) lần lượt là 44% và 55,9% và cả 02 thông số quan trắc đều có tỷ lệ vượt giá trị giới hạn tối đa lớn hơn so với kết quả quan trắc Đợt 7.

- Chất lượng môi trường nước mặt trên các LVS Hồng - Thái Bình, Đà; LVS Mã - Chu và LVS Cả - La (Sông Lam, sông La) duy trì ở mức tốt, hầu như các vị trí quan trắc có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Trên LVS Cầu tiếp tục bị ô nhiễm môi trường nước trên nhánh sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối đối với các thông số DO, COD, BOD5, các nhánh sông còn lại hầu như chất lượng các thông số duy trì từ mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. LVS Nhuệ Đáy bị ô nhiễm nặng trên nhánh sông Nhuệ và các sông nội thành Hà Nội đối với các thông số DO, COD, BOD5, TN, TP tại các điểm quan trắc đều ở ngưỡng rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT và chưa có dấu hiệu cải thiện chất lượng nước so với quan trắc Đợt 7/2024.

- Chất lượng môi trường nước biển ven bờ tại khu vực phía Bắc Đợt 8/2024 cho thấy, hầu hết các thông số quan trắc có chất lượng khá tốt và đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT. Có 2 thông số N-NH4+, Fe có giá trị vượt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT, trong đó thông số N-NH4+ có tỷ lệ vượt QCCP rất lớn 96%, thông số Fe có tỷ lệ vượt là 4%.