Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 7 năm 2024

Quan trắc môi trường định kỳ 17/10/2024

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước được xây dựng trên cơ sở kết quả quan trắc Đợt 7 (tháng 9/2024) do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc thực hiện. Trong đó, chất lượng môi trường không khí xung quanh được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 31 điểm quan trắc thuộc địa bàn các tỉnh vùng KTTĐ phía Bắc và một số điểm nóng về ô nhiễm môi trường không khí xung quanh tại một số khu đô thị, KCN… trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; chất lượng môi trường nước đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 185 điểm quan trắc môi trường nước mặt thuộc 05 lưu vực sông (LVS Cầu, LVS Nhuệ - Đáy, LVS Mã - Chu, LVS Hồng - Thái Bình, Đà và LVS Cả - La); 25 điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ dọc các tỉnh ven biển khu vực miền Bắc bao gồm các tỉnh/thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 7 năm 2024 như sau:

Hiện trạng chất lượng môi trường không khí

Thời gian quan trắc đợt 7 (tháng 9/2024) thực hiện từ ngày 10 tháng 9 đến hết ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại thời điểm quan trắc có nền nhiệt độ trung bình tại các điểm quan trắc khá cao. Nhiệt độ trung bình tại các điểm quan trắc dao động trong khoảng 26,9 ÷ 35,2 oC, độ ẩm tương đối dao động từ 61,2 ÷ 77,5%, áp suất khí quyển chênh lệch từ 1001,1 ÷ 1013,7 hPa. Hướng gió chủ đạo là hướng Tây và Tây Nam (chiếm 26% mỗi loại), vận tốc gió trung bình là 2,5m/s, dao động trong khoảng 1,2 ÷ 3,7m/s.

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn đợt 7 (tháng 9/2024) cho thấy, trong 6 thông số quan trắc quan trắc chất lượng môi trường không khí xung quanh (TSP, CO, NO2, SO2, Pb) và Tiếng ồn chỉ có kết quả quan trắc thông số tiếng ồn có giá trị vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT tại 41/93 lần quan trắc chiếm tỷ lệ 44,1%. Các thông số quan trắc còn lại đều có chất lượng tốt và đạt theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 05:2023/BTNMT) TB 1h;

Trong thời gian quan trắc đợt 7 (tháng 9/2024), kết quả quan trắc thông số TSP khá thấp, tất cả các vị trí quan trắc có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Giá trị TSP tại các vị trí quan trắc dao động từ 124,3-224,0 µg/Nm3, giá trị quan trắc TSP cả đợt 6, 7 tại các vị trí quan trắc đều thấp và đều đạt theo quy chuẩn QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Giá trị quan trắc trung bình tại các điểm quan trắc tại đợt 7 có giá trị tương đồng so với kết quả quan trắc đợt 6/2024.

Tại các vị trí quan trắc xung quanh các KCN vào thời điểm quan trắc đợt 7 (tháng 9 /2024), ghi nhận tất cả các vị trí quan trắc có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h), giá trị TSP tại các vị trí dao động từ 183-224 µg/Nm3. Giá trị quan trắc tại các điểm quan trắc đợt 7/2024 có giá trị tương đồng so với đợt 6/2024, giá trị quan trắc dao động giữa 2 đợt không chênh lệch nhiều (đợt 6 giao động từ 175-244 µg/Nm3 và đợt 7 là 183-224 µg/Nm3).

Tại các nút giao thông hay các khu dân cư, thời điểm quan trắc đợt 7/2024 ghi nhận giá trị TSP quan trắc được đều nhỏ hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) và không có nhiều biến động so với đợt 6/2024. Giá trị TSP tại khu vực giao thông dao động từ 165-211 µg/Nm3, vị trí quan trắc có giá trị lớn nhất tại Bến xe Hà Đông cũ - Hà Nội (trên đường Nguyễn Trãi) và các vị trí quan trắc có giá trị thấp nhất tại tỉnh Hà Tĩnh. Tại một số khu vực dân cư phía Bắc giá trị TSP quan trắc được dao động từ 143-202 µg/Nm3, tại khu vực dân cư của tỉnh Hà Tĩnh có giá trị TSP thấp nhất so với các khu vực còn lại. Như vậy, trong cả 2 đợt quan trắc (đợt 6 và đợt 7) giá trị TSP tại tỉnh Hà Tĩnh có kết quả thấp nhất so với các tỉnh còn lại.

Đối với các thông số quan trắc khác (CO, Pb, SO2, NO2) thời điểm quan trắc Đợt 7 (tháng 9 /2024) đều có kết quả nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) lần lượt đối với CO là 30.000 µg/Nm3; NO2 là 200 µg/Nm3; SO2 là 350 µg/Nm3. Giá trị các thông số quan trắc đợt 7/2024 đều tương đồng so với quan trắc đợt 6/2024.

Kết quả quan trắc tiếng ồn, Đợt 7/2024 có 41/91 giá trị (17/31 điểm quan trắc) có giá trị quan trắc tiếng ồn vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h). Số giá trị và điểm đo có giá trị vượt quy chuẩn của đợt 7/2024 giảm nhẹ so với đợt 6/2024 (18/31 điểm quan trắc).

Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước Đợt 7 (tháng 9/2024) trên 05 lưu vực sông (LVS) tại khu vực phía Bắc cho thấy, giá trị các thông số quan trắc đạt mức A (chất lượng nước tốt) có sự chênh lệnh khá lớn giữa các thông số, tỷ lệ dao động từ 8,6-99,5%, trong đó thấp nhất là thông số Tổng N (TN) chỉ đạt 8,6%, kế tiếp là thông số TSS có 14,6% giá trị đạt mức A, điều này phản ánh nước sông ở khu vực phía Bắc quan trắc Đợt 7/2024 bị ô nhiễm nhiều nhất đối với nhóm thông số dinh dưỡng. 

Qua kết quả quan trắc Đợt 7/2024 cho thấy, chất lượng môi trường nước mặt trên các LVS khác nhau có sự khác nhau, cụ thể:

Chất lượng môi trường nước trên lưu vực sông Cầu

Trên dòng chính sông Cầu, thời điểm quan trắc Đợt 7 (tháng 9/2024) có kết quả thông số pH có 95% các giá trị đạt mức A và 5% đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số DO có 41% các giá trị đạt mức A và 55% mức B và 5% các giá trị đạt mức C theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số TSS có 100% các giá trị đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số COD có giá trị là 91% đạt mức tốt (mức A), BOD5  có giá trị 68% đạt mức tốt (mức A); thông số TP có 91% các giá trị đạt mức A và 9% các giá trị đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT, thông số TN tiếp tục là thông số có chất lượng ở mức thấp nhất với 45% giá trị đạt mức trung bình (mức B), 55 % giá trị còn lại ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

So với thời điểm quan trắc Đợt 6/2024, các thông số pH, TSS, COD, BOD5, TN, TP quan trắc vào Đợt 7/2024 trên nhánh chính sông Cầu có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) cao hơn so với thời điểm quan trắc đợt 6/2024, thông số DO và quan trắc vào đợt 7/2024 có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) thấp hơn so với thời điểm quan trắc đợt 6/2024, thông số TP, TN trong Đợt 7/2024 có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) cao hơn so với thời điểm quan trắc Đợt 6/2024.

Chất lượng môi trường nước trên dòng chính sông Cầu thời điểm quan trắc Đợt 7 (tháng 9/2024) đối với các thông số pH, TSS, COD, BOD5, TP hầu đều đạt mức trung bình đến tốt đồng đều trên cả tuyến sông. Tại Tân Phú các thông số BOD5, TN trong ngưỡng mức C theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các đoạn còn lại có chất lượng khá tốt ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số TN đoạn từ cầu Trà vườn đến Yên Dũng có chất lượng ở mức xấu và rất xấu (mức C, D) các đoạn còn lại có chất lượng khá tốt ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số DO tại các điểm Sơn Cẩm, cầu Gia Bẩy và cầu Mây ở mức xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số còn lại tại các điểm đều có chất lượng tốt đến trung bình (mức A, B) theo phân loại loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, như vậy trong đợt 7/2024, chất lượng môi trường nước trên nhánh chính sông Cầu nhiều điểm có chất lượng tốt và cải thiện hơn so với đợt 6/2024.

Trên các phụ lưu của Lưu vực sông Cầu (sông Công, sông Nghinh Tường và sông Thương tại Hải Dương), các thông số quan trắc pH, TSS, TP trên sông Công hầu hết đều có giá trị chất lượng nước ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, thông số DO tại các điểm quan trắc có giá trị ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT tại: Kim Sơn, Hồ Núi Cốc và các nhánh sông từ Chùa Hang đến suối Cam Giá.  Thông số TN trừ các điểm Nam Hồ Núi Cốc, Kim Sơn, Phấn Mễ, Tân Long ở mức B theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, các điểm quan trắc còn lại đều có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Có thể thấy, trong đợt 7/2024 tại một số nhánh sông trên lưu vực sông Cầu có chất lượng nước kém (Tân Long, cầu Bóng Tối, chùa Hang) và một một số thông số (TN, DO) tại nhiều vị trí có chất lượng từ mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT

Sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối vẫn là các điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước trên LVS Cầu. Trong đó, tại điểm quan trắc ở cầu Đào Xá trên sông Ngũ Huyện Khê, các thông số pH, DO, COD, BOD5, TN có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, thông số TSS, TP có chất lượng ở mức trung bình (mức B), các điểm quan trắc còn lại cầu Song Thát và Văn Môn cũng trong tình trạng bị ô nhiễm các thông số TN, TP đều có chất lượng ở mức xấu và rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. So với đợt 6/2024, trên sông Ngũ Huyện Khê ô nhiễm nhiễm dinh dưỡng đều tăng. Tại suối Bóng Tối, thời điểm quan trắc Đợt 7/2024 mức độ ô nhiễm tương đồng so với đợt Đợt 6/2024, giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN đều ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước trên LVS Nhuệ, Đáy

LVS Nhuệ, Đáy tiếp tục là LVS có kết quả quan trắc với nhiều thông số có giá trị ở mức rất xấu nhiều nhất (mức D) so với các LVS khác tại khu vực phía Bắc. Trong đó, thông số pH và TSS tại hầu hết các vị trí quan trắc có chất lượng ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT, các thông số quan trắc còn lại DO, COD, BOD5, TN có đến trên 40% giá trị thông số ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT và ít có sự biến động so với kết quả quan trắc Đợt 6 (tháng 8/2024).

Tương tự như các LVS khác, chất lượng nước trên LVS Nhuệ, Đáy cũng có sự phân hóa theo dòng chảy và có sự chênh lệch lớn về mức độ ô nhiễm giữa các đoạn sông chảy qua khu vực đô thị và làng nghề với các đoạn sông khác, cụ thể: Trên dòng chính sông Nhuệ, thông số TN, DO của 2 đợt quan trắc (Đợt 6 và Đợt 7) năm 2024 có kết quả quan trắc trên 80% các giá trị ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số COD quan tắc trong Đợt 7 có kết quả 40% ở rất mức xấu và rất xấu (mức C, D) có xu hướng tốt hơn so với Đợt 6/2024. Thông số BOD5 Đợt 7 có kết quả 50% giảm 15% so với đợt 6 đối với các giá trị ở rất mức xấu và rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Nhìn chung, chất lượng môi trường nước trên sông Nhuệ vẫn tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ, hợp chất dinh dưỡng và kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước Đợt 7/2024 có chất lượng nước được cải thiện một chút so với quan trắc Đợt 6/2024.   

Sông Đáy, đoạn chảy qua địa phận Tp. Hà Nội, nước sông chỉ sử dụng được cho mục đích sản xuất công nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý hoặc giao thông thủy và các mục đích có yêu cầu sử dụng nước thấp, giá trị các thông số DO, TSS, TN phần lớn các điểm quan trắc ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Chất lượng môi trường nước sông Đáy được cải thiện dần khi về phía khu vực hạ lưu sông tại cầu Đọ Xá (đoạn qua tỉnh Hà Nam), trong đó 100% các giá trị pH đạt mức tốt và trung bình. Các thông số quan trắc pH, DO, COD, BOD5, TP đoạn từ cầu Đọ Xá đến Cửa Đáy hầu như tất cả các điểm quan trắc đều đạt chất lượng mức trung bình đến mức tốt (mức A, B). Thông số TN có chất lượng ở mức xấu (mức C) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT tại Kiện Khê và Trung Hiếu Hạ, các điểm còn lại hầu hết đạt mức B. Nhìn chung chất lượng nước trên sông Đáy thời điểm quan trắc Đợt 7 (tháng 9/2024) ít biến động so với thời điểm quan trắc Đợt 6 (tháng 8/2024).

Trên các phụ lưu sông Hoàng Long (Ninh Bình), sông Đào (Nam Định), các thông số quan trắc pH, DO, TSS, COD, BOD5, TN, TP hầu như đều có kết quả chất lượng nước đạt mức trung bình đến mức tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.

Trên sông Châu Giang, từ điểm cầu Phủ Lý đến đền Độc Bộ chất lượng nước sông ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT đối với giá trị các thông số DO, TN. Các thông số còn lại hầu như đều có chất lượng tương đối tốt và hầu như ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Có điểm Cầu Phủ lý có chất lượng kém nhất so với các điểm còn lại, chỉ có pH và TSS có giá trị ở mức A, B, các thông số còn lại đều ở mức C, D theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Như vậy, trên các phục lưu thuộc sông Nhuệ Đáy, nhánh sông Châu Giang có nhiều thông số quan trắc có chất lượng kém nhất, nguyên nhân có thể là do nhánh sông này phải tiếp nhận một phần nguồn nước từ sông Nhuệ.

Chất lượng môi trường nước tại các sông nội thành Hà Nội Đợt 7/2024 tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ, dinh dưỡng và chưa có dấu hiệu được cải thiện so với Đợt 6/2024. Toàn bộ các điểm quan trắc trên các sông nội thành Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu) có kết quả giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN, TP ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số quan trắc DO, COD, BOD5, TN, TP trong Đợt 6 và 7/2024 đều có 100% các giá trị ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước trên LVS Hồng - Thái Bình, Đà

Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà Đợt 7/2024 ít biến động so với thời điểm quan trắc Đợt 6/2024, phần lớn các thông số quan trắc tiếp tục được duy trì mức tốt đến mức trung bình, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Các thông số pH, TP, COD, DO trên 90% đạt mức A và mức B theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số quan trắc COD, BOD5 có chất lượng giảm hơn so với Đợt 6/2024, các thông số quan trắc DO và TP chất lượng trong Đợt 7/2024 được cải thiện hơn so với Đợt 6/2024.

Tại các phụ lưu của LVS sông Hồng-Thái Bình, Đà (sông Đà, sông Lô, sông Thái Bình), chất lượng môi trường nước sông tiếp tục được duy trì ở mức tốt, các thông số quan trắc đều đạt ở ngưỡng trung bình đến mức tốt theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước trên LVS Mã - Chu

Chất lượng môi trường nước trên LVS Mã - Chu Đợt 7/2024 có chất lượng khá tốt, ngoại trừ thông số TSS trên toàn lưu vực có giá trị ở mức từ xấu đến rất xấu (mức C, D) không đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, các thông số còn lại gồm pH, DO, COD, BOD5, TN, TP tất cả các điểm quan trắc có kết quả ở mức tốt đến mức trung (mức A, B) bình theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Đối với thông số TSS do thời điểm quan trắc vào mùa mưa (tháng 9/2024) nên các vị trí quan trắc có dòng chảy khá mạnh, cuốn theo lượng phù xa lớn nên giá trị quan trắc trong Đợt 7/2024 khá lớn.

Nhìn chung chất lượng môi trường nước LVS Mã - Chu được duy trì mức tốt, các thông số quan trắc: pH, DO, COD, BOD5, TSS, TP có kết quả tương đồng với thời điểm quan trắc Đợt 6/2024. Trong thời điểm quan trắc Đợt 7/2024 thông số TN có kết quả quan trắc tốt hơn so với thời điểm quan trắc Đợt 6/2024.

Chất lượng môi trường nước trên sông La, sông Lam

Trên sông Cả La và các phụ lưu, thời điểm quan trắc Đợt 7/2024 có kết quả phần lớn các điểm quan trắc có giá trị các thông số đạt ở mức tốt đến mức trung bình (mức A, B), ngoại trừ một số điểm quan trắc thông số TSS, TN có giá trị ở mức C theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cần biện pháp xử lý theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Nhìn chung, kết quả quan trắc Đợt 7/2024 cho thấy tất cả các thông số quan trắc đều có giá trị khá tương đồng so với Đợt 6/2024.

Trên sông Lam và các phụ lưu cho thấy, phần lớn các điểm quan trắc có giá trị quan trắc ở ngưỡng A và B, chất lượng môi trường nước sông tiếp tục được duy trì ở mức tốt đến mức trung bình, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Tuy nhiên, trên sông Lam thông số TSS có giá trị cao, từ cầu Mường Xén đến Yên Xuân ở mức xấu đến rất xấu (mức C D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nguyên nhân là do đợt 7 quan trắc vào mùa mưa nên nước có dòng chảy mạnh. Thông số TSS tại điểm Nghĩa Thịnh đến Nghĩa Hưng có giá trị ở mức xấu phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Nhìn chung, kết quả quan trắc trên sông Lam và các phụ lưu Đợt 7/2024 cho thấy các thông số quan trắc được khá tương đồng với kết quả quan trắc Đợt 6/2024. Tại một số vị trí, thông số quan trắc TSS, TN có chất lượng kém hơn so với Đợt 6/2024.

Hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ

Chất lượng môi trường nước biển ven bờ Đợt 7/2024 cho thấy, các thông số quan trắc pH, DO đều có chất lượng đạt so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT- Bảng 1 giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước. Thông số TSS tại điểm cửa Lèn vượt so với quy chuẩn, các điểm quan trắc còn lại đều đạt so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT.

Thông số Amoni Đợt 7/2024 cho thấy có 21/25 điểm quan trắc có giá trị quan trắc vượt so với Quy chuẩn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT, chỉ có 4/25 điểm quan trắc có giá trị quan trắc đạt so với Quy chuẩn cho phép theo QCVN 10:2023/BTNMT. Điểm quan trắc có giá trị cao nhất quan trắc tại điểm Biển Thạch Hải (2,33mg/L) vượt 23 lần so với Quy chuẩn cho phép QCVN 10:2023/BTNMT. Như vậy thông số Amoni quan trắc Đợt 7/2024 có giá trị lớn, nhiều điểm có giá trị vượt so với Quy chuẩn cho phép QCVN 10:2023/BTNMT và chất lượng giảm hơn so với thời điểm quan trắc Đợt 6/2024.

Thôn số Fe môi trường nước biển Đợt 7/2024 cho thấy, tất cả các điểm quan trắc đều có giá trị quan trắc đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT, Thông số Fe quan trắc môi trường nước nước biển ven bờ trong Đợt 7/2024 có chất lượng được cải thiện tốt hơn so với Đợt 6/2024.

Chất lượng môi trường nước biển ven bờ đối với các thông số quan trắc còn lại Pb, Cd, As, Hg, Tổng Cr, tổng Phenol trong đợt Đợt 7/2024 cho thấy tất cả các điểm quan trắc đều có giá trị đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT-Bảng 1 giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước.

Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường, chỉ số chất lượng môi trường khu vực miền Bắc đợt 7/2024 cho thấy:

- Chất lượng môi trường không khí xung quanh tại các địa phương ở khu vực phía miền Bắc tiếp tục duy trì mức tốt và không có nhiều khác biệt so với thời điểm quan trắc Đợt 6 (tháng 8/2024), các thông số quan trắc chất lượng môi trường không khí xung quanh (TSP, CO, NO2, SO2) đều đạt giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h), duy nhất có thông số tiếng ồn tại một số điểm quan trắc gần KCN và đường giao thông vượt giới hạn cho phép theo QCVN 26:2010/BTNMT (khung thời gian từ 6-21h).

- Chất lượng môi trường nước mặt trên các LVS Hồng - Thái Bình, Đà; LVS Mã - Chu và LVS Cả - La (Sông Lam, sông La) tiếp tục được duy trì ở mức tốt, hầu như các vị trí quan trắc chất lượng nước có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp phân loại chất lượng nước theo QCVN 08:2023/BTNMT. Trên LVS Cầu chất lượng môi trường nước tiếp tục bị ô nhiễm trên nhánh sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối đối với các thông số DO, COD, BOD5. Đối với các nhánh sông còn lại hầu như chất lượng nước được duy trì từ mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. LVS Nhuệ Đáy chất lượng môi trường nước bị ô nhiễm nặng trên nhánh sông Nhuệ và các sông nội thành Hà Nội đối với các thông số DO, COD, BOD5, TN, TP tại các điểm quan trắc đều ở ngưỡng rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT và chưa có dấu hiệu cải thiện chất lượng nước so với quan trắc Đợt 6/2024.

- Chất lượng môi trường nước biển ven bờ tại khu vực phía Bắc Đợt 7/2024 cho thấy, hầu hết các vị trí quan trắc có chất lượng khá tốt và đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT. Có 2 thông số N-NH4+, TSS có số điểm vượt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT lần lượt các tỷ lệ 84%, 4%. Kết quả quan trắc chất lượng môi trường nước biển ven bờ Đợt 7/2024 đối với thông số Fe có chất lượng tốt và được cải thiện tốt hơn so với Đợt 6/2024. Thông số Amoni có chất lượng giảm hơn so với Đợt 6/2024. Các thông số quan trắc khác (Pb, Cd, As, Hg, Tổng Cr, tổng Phenol) có chất lượng khá tương đồng so với thời điểm quan trắc đợt 6/2024.