Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 6 năm 2024

Quan trắc môi trường định kỳ 12/09/2024

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước được xây dựng trên cơ sở kết quả quan trắc Đợt 6 (tháng 8/2024) do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc thực hiện. Trong đó, chất lượng môi trường không khí xung quanh được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 31 điểm quan trắc thuộc địa bàn các tỉnh vùng KTTĐ phía Bắc và một số điểm nóng về ô nhiễm môi trường không khí xung quanh tại một số khu đô thị, KCN… trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; chất lượng môi trường nước đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 185 điểm quan trắc môi trường nước mặt thuộc 05 lưu vực sông (LVS Cầu, LVS Nhuệ - Đáy, LVS Mã - Chu, LVS Hồng - Thái Bình, Đà và LVS Cả - La); 25 điểm quan trắc môi trường nước biển ven bờ dọc các tỉnh ven biển khu vực miền Bắc bao gồm các tỉnh/thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 6 năm 2024 như sau:

Hiện trạng chất lượng môi trường không khí

Thời gian quan trắc đợt 6 (tháng 8/2024) thực hiện từ ngày 05 tháng 8 đến hết ngày 22 tháng 8 năm 2024, thời điểm quan trắc có nền nhiệt độ trung bình tại các điểm quan trắc khá cao. Nhiệt độ trung bình tại các điểm quan trắc dao động trong khoảng 28,7 ÷ 36,1 oC, độ ẩm tương đối dao động từ 65,8 ÷ 80,1%, áp suất khí quyển chênh lệch từ 1001,7 ÷ 1007,9 hPa. Hướng gió chủ đạo là hướng Đông Nam (chiếm 26%), vận tốc gió trung bình là 2,2m/s, dao động trong khoảng 1,3 ÷ 4,3m/s.

Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh và tiếng ồn đợt 6 (tháng 8/2024) cho thấy, trong 6 thông số quan trắc quan trắc môi trường không khí xung quanh (TSP, CO, NO2, SO2, Pb) và Tiếng ồn chỉ có kết quả quan trắc thông số tiếng ồn có giá trị vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT tại 49/93 lần quan trắc chiếm tỷ lệ 52,7%. Các thông số quan trắc còn lại đều có chất lượng tốt và đạt theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN 05:2023/BTNMT) TB 1h;

Trong thời gian quan trắc đợt 6 (tháng 8/2024), kết quả quan trắc thông số TSP khá thấp, tất cả các vị trí quan trắc có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Giá trị TSP tại các vị trí quan trắc dao động từ 102,0-244,3 µg/Nm3, giá trị quan trắc TSP cả đợt 6 và đợt 5 tại các vị trí quan trắc đều thấp và đạt theo quy chuẩn QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Giá trị quan trắc trung bình tại các điểm quan trắc tại đợt 6 tương đồng so với kết quả quan trắc đợt 5/2024.

Tại các vị trí quan trắc xung quanh các KCN vào thời điểm quan trắc đợt 6 (tháng 8 /2024), ghi nhận tất cả các vị trí quan trắc có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h), giá trị TSP tại các vị trí dao động từ 175-244 µg/Nm3. Giá trị quan trắc tại các điểm quan trắc đợt 6/2024 có giá trị tương đồng so với đợt 5/2024, giá trị dao động giữa 2 đợt không chênh lệch nhiều (đợt 5 giao động từ 208-256 µg/Nm3 và đợt 6 là 175-244 µg/Nm3).

Tại các nút giao thông hay các khu dân cư, thời điểm quan trắc đợt 6/2024 ghi nhận giá trị TSP quan trắc được đều nhỏ hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) và không có nhiều biến động so với đợt 5/2024. Giá trị TSP tại khu vực giao thông dao động từ 172-216 µg/Nm3, vị trí quan trắc có giá trị lớn nhất tại Bến xe Hà Đông cũ - Hà Nội (trên đường Nguyễn Trãi) và các vị trí quan trắc có giá trị thấp nhất tại tỉnh Hà Tĩnh. Tại một số khu vực dân cư phía Bắc giá trị TSP quan trắc được dao động từ 116-217 µg/Nm3, tương tự đối với các nút giao thông, tại khu vực dân cư của tỉnh Hà Tĩnh cho giá trị TSP thấp nhất so với các khu vực còn lại. Như vậy, trong cả 2 đợt quan trắc (đợt 5 và đợt 6) giá trị TSP tại tỉnh Hà Tĩnh có kết quả thấp nhất so với các tỉnh còn lại.

Đối với các thông số quan trắc khác (CO, Pb, SO2, NO2) thời điểm quan trắc Đợt 6 (tháng 8 /2024) đều cho kết quả nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) lần lượt đối với CO là 30.000 µg/Nm3; NO2 là 200 µg/Nm3; SO2 là 350 µg/Nm3. Giá trị các thông số quan trắc đợt 6/2024 đều tương đồng so với quan trắc đợt 5/2024.

Kết quả quan trắc tiếng ồn, Đợt 6/2024 có 49/91 giá trị (16/31 điểm quan trắc) có giá trị tiếng ồn vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h). Số giá trị và điểm đo có giá trị vượt quy chuẩn của đợt 6/2024 giảm nhẹ so với đợt 5/2024.

Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt

Kết quả quan trắc Đợt 6 (tháng 8/2024) trên 05 lưu vực sông (LVS) tại khu vực phía Bắc cho thấy, giá trị các thông số quan trắc đạt mức A (chất lượng nước tốt) có sự chênh lệnh khá lớn giữa các thông số, tỷ lệ dao động từ 7-97,8%, trong đó thấp nhất là thông số Tổng N (TN) chỉ đạt 7%, kế tiếp là thông số TSS có 22,2% giá trị đạt mức A, điều này phản ánh nước sông ở khu vực phía Bắc quan trắc Đợt 6/2024 bị ô nhiễm nhiều nhất đối với nhóm thông số dinh dưỡng. 

Qua kết quả quan trắc Đợt 6/2024 cho thấy, chất lượng môi trường nước mặt trên các LVS khác nhau có sự khác nhau, cụ thể:

Chất lượng môi trường nước lưu vực sông Cầu

Trên dòng chính sông Cầu, thời điểm quan trắc Đợt 6 (tháng 8/2024) cho kết quả thông số pH có 86% các giá trị đạt mức A và 14% đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số DO có 41% các giá trị đạt mức A và 59% các giá trị đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số TSS có 27% các giá trị đạt mức A và 68% các giá trị đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT; thông số COD có giá trị là 81% đạt mức tốt (mức A), BOD5  có giá trị 77,2% đạt mức tốt (mức A); thông số TP có 45% các giá trị đạt mức A và 45% các giá trị đạt mức B theo quy chuẩn QCVN 08:2023/BTNMT, thông số TN tiếp tục là thông số có chất lượng ở mức thấp nhất với 31% giá trị đạt mức trung bình (mức B), 67 % giá trị còn lại ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

So với thời điểm quan trắc Đợt 5/2024, các thông số pH, DO, COD, BOD5, quan trắc vào Đợt 6/2024 trên nhánh chính sông Cầu có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) cao hơn so với thời điểm quan trắc đợt 5/2024, thông số TSS và TP quan trắc vào đợt 6/2024 có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) thấp hơn so với thời điểm quan trắc đợt 5/2024, thông số TN trong Đợt 6/2024 có % các giá trị đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A) tốt hơn so với thời điểm quan trắc Đợt 5/2024.

Chất lượng môi trường nước trên dòng chính sông Cầu thời điểm quan trắc Đợt 6 (tháng 7/2024) đối với các thông số pH, DO, TSS, COD, BOD5 hầu hết đạt mức trung bình đến tốt đồng đều trên cả tuyến sông, trừ vị trí quan trắc tại Dương Phong có giá trị thông số TSS trong ngưỡng mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Tại cầu Vát các thông số COD, BOD5 trong ngưỡng mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, các đoạn còn lại có chất lượng khá tốt ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số TP hai điểm Thác Giềng và Chợ Mới có chất lượng ở mức xấu và rất xấu (mức C, D) các đoạn còn lại có chất lượng khá tốt ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số TN trên toàn tuyến hầu như vẫn tiếp tục ở mức rất xấu và xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT ngoại trừ các điểm từ cầu Phà đến Hoàng Văn Thụ, Hồ Núi Cốc, Nam Hồ Núi Cốc và Kim Sơn có chất lượng nước ở mức trung bình (mức B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT và chưa được cải thiện hơn so với thời điểm quan trắc đợt 5/2024.

Trên các phụ lưu của Lưu vực sông Cầu (sông Công, sông Nghinh Tường và sông Thương tại Hải Dương), các thông số quan trắc trên sông Công hầu hết đều có giá trị chất lượng nước ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT ngoại trừ 1 số vị trí với các thông số TP tại cầu Bình Sơn, cầu Loàng, cầu Bóng Tối và suối Cam Giá, thông số TN trừ 2 điểm Hồ Núi Cốc, Nam Hồ Núi Cốc các điểm đều có chất lượng ở mức xấu đến rất xấu, BOD5 tại cầu Loàng và cầu Bóng Tối. Các nhánh sông còn lại thông số pH, TSS, COD tại hầu hết các điểm quan trắc đều đạt chất lượng ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) thì các thông số DO, BOD5, TN, TP tại nhiều điểm quan trắc có chất lượng ở mức xấu đến mức rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, điều đó phản ánh nước sông tại các điểm quan trắc trên các phụ lưu sông Cầu bị ô nhiễm bởi nhóm thông số dinh dưỡng và hữu cơ.

Sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối vẫn là các điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước trên LVS Cầu. Trong đó, tại điểm quan trắc ở cầu Đào Xá trên sông Ngũ Huyện Khê, các thông số DO, COD, BOD5, TN có chất lượng ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, thông số TSS chất lượng ở mức tốt (mức A) và TP có chất lượng ở mức trung bình (mức B). Các điểm quan trắc còn lại cầu Song Thát và Văn Môn cũng trong tình trạng bị ô nhiễm các thông số TN, COD và BOD5 đều có chất lượng ở mức xấu và rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. So với đợt 5/2024, trên sông Ngũ Huyện Khê ô nhiễm hữu cơ và nhiễm dinh dưỡng đều tăng. Tại suối Bóng Tối, suối Cam Giá, thời điểm quan trắc Đợt 6/2024 mức độ ô nhiễm tương đồng so với đợt 5, giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN đều ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước trên LVS Nhuệ, Đáy

LVS Nhuệ, Đáy tiếp tục là LVS cho kết quả quan trắc với nhiều thông số có giá trị ở mức rất xấu nhiều nhất (mức D) so với các LVS thực hiện quan trắc ở khu vực phía Bắc. Trong đó, thông số pH và TSS tại hầu hết các vị trí quan trắc đều có chất lượng ở mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT, các thông số quan trắc còn lại DO, COD, BOD5, TN và TP có đến trên 40% giá trị thông số ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT và ít có sự biến động so với kết quả quan trắc Đợt 5 (tháng 7/2024).

Tương tự như các LVS khác, chất lượng nước trên LVS Nhuệ, Đáy cũng có sự phân hóa theo dòng chảy và có sự chênh lệch lớn về mức độ ô nhiễm giữa các đoạn sông chảy qua khu vực đô thị và làng nghề với các đoạn sông khác, cụ thể: Trên dòng chính sông Nhuệ, thông số TN, TP, DO của 2 đợt quan trắc (Đợt 5 và Đợt 6) năm 2024 cho kết quả phân tích trên 80% các giá trị ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số COD Đợt 6 cho kết quả 60% tương tự như đợt 5 ở rất mức xấu và rất xấu (mức C, D), BOD5 Đợt 6 cho kết quả 70% tăng 10% so với đợt 5 các giá trị ở rất mức xấu và rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Nhìn chung, môi trường nước trên sông Nhuệ vẫn tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ, hợp chất dinh dưỡng và kết quả quan trắc Đợt 6/2024 chưa có dấu hiệu được cải thiện nhiều so với quan trắc Đợt 5/2024.   

Sông Đáy, đoạn chảy qua địa phận Tp. Hà Nội nước sông chỉ sử dụng được cho mục đích sản xuất công nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý hoặc giao thông thủy và các mục đích có yêu cầu sử dụng nước thấp, giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TN phần lớn các điểm quan trắc ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Nước sông Đáy được cải thiện dần khi về phía khu vực hạ lưu sông tại cầu Đọ Xá (đoạn qua tỉnh Hà Nam), trong đó 100% các giá trị pH đạt mức tốt và trung bình. Các thông số quan trắc pH, DO, COD, BOD5, TP đoạn từ cầu Đọ Xá đến Cửa Đáy hầu như tất cả các điểm quan trắc đều đạt chất lượng mức trung bình đến mức tốt (mức A, B). Thông số TN có chất lượng ở mức xấu (mức C) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT từ Trạm bơm Thanh Nộn đến Khánh Phú, các điểm còn lại hầu hết đạt mức B. Thông số TSS tại các điểm xi măng Việt Trung, Trung Hiếu Hạ và 3 điểm trước khi ra cửa sông có chất lượng ở mức C, các điểm còn lại hầu hết đạt mức B. Nhìn chung chất lượng nước trên sông Đáy thời điểm quan trắc Đợt 6 (tháng 8/2024) ít biến động so với thời điểm quan trắc Đợt 5 (tháng 7/2024).

Trên các phụ lưu sông Hoàng Long (Ninh Bình), sông Đào (Nam Định), các thông số quan trắc pH, DO, TSS, COD, BOD5, TN, TP hầu như đều cho kết quả chất lượng nước đạt mức trung bình đến mức tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Ngoại trừ thông số TN tiếp tục bị ô nhiễm và có nhiều giá trị TN ở mức xấu và rất xấu (mức C, D) trên các phụ lưu thuộc LVS Nhuệ Đáy.

Trên sông Châu Giang, từ điểm cầu Phủ Lý đến đền Độc Bộ chất lượng nước sông ở mức xấu đến rất xấu (mức C, D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT đối với giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TN. Như vậy, trên các phục lưu thuộc sông Nhuệ Đáy, nhánh sông Châu Giang có nhiều thông số quan trắc có chất lượng kém nhất, nguyên nhân có thể là do nhánh sông này phải tiếp nhận một phần nguồn nước từ sông Nhuệ.

Các sông nội thành Hà Nội Đợt 6/2024 tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ, dinh dưỡng và chưa có dấu hiệu được cải thiện so với Đợt 5/2024. Toàn bộ các điểm quan trắc trên các sông nội thành Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu) cho kết quả giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN, TP ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số quan trắc DO, COD, BOD5, TN, TP trong Đợt 5 và 6/2024 đều có 100% các giá trị ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà

Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà Đợt 6/2024 ít biến động so với thời điểm quan trắc Đợt 5/2024, phần lớn các thông số quan trắc duy trì mức tốt đến mức trung bình, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Cụ thể 100% giá trị thông số pH, TP, COD đạt mức A và mức B theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số quan trắc DO, TSS, BOD5 có chất lượng giảm hơn so với Đợt 5/2024, các thông số quan trắc TN và TP chất lượng trong Đợt 6/2024 được cải thiện hơn so với Đợt 5/2024.

Trên các phụ lưu (sông Đà, sông Lô, sông Thái Bình), môi trường nước sông vẫn được duy trì ở mức tốt, các thông số quan trắc đều đạt ở ngưỡng trung bình đến mức tốt theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước LVS Mã - Chu

Chất lượng môi trường nước trên LVS Mã - Chu Đợt 6/2024 có chất lượng khá tốt, ngoại trừ thông số TSS ở thượng nguồn có giá trị ở ngưỡng từ xấu đến rất xấu, không đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, các thông số còn lại gồm pH, DO, COD, BOD5, TN, TP hầu hết các điểm quan trắc cho kết quả ở mức tốt đến mức trung bình theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Đối với thông số TSS do thời điểm quan trắc vào mùa mưa (tháng 8/2024) nên các vị trí thượng nguồn có dòng chảy mạnh và cuốn theo lượng phù xa lớn nên giá trị quan trắc trong Đợt 6/2024 khá lớn.

Nhìn chung chất lượng môi trường nước LVS Mã - Chu duy trì mức tốt, các thông số pH, DO, COD, BOD5, TSS, TP tương đồng với thời điểm quan trắc Đợt 5/2024. Trong thời điểm quan trắc Đợt 6/2024 thông số TN có chất lượng tốt hơn so với thời điểm quan trắc Đợt 5/2024.

Chất lượng môi trường nước sông La, sông Lam

Trên sông Cả La và các phụ lưu, thời điểm quan trắc Đợt 6/2024 cho kết quả phần lớn các điểm quan trắc cho giá trị các thông số đạt ở mức tốt đến mức trung bình (mức A, B), ngoại trừ một số điểm quan trắc thông số TSS có giá trị ở mức C theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cần biện pháp xử lý theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Nhìn chung, kết quả quan trắc Đợt 6/2024 cho thấy tất cả các thông số quan trắc đều có giá trị khá tương đồng so với Đợt 5/2024.

Trên sông Lam và các phụ lưu cho thấy, phần lớn các điểm quan trắc cho giá trị các sông số ở ngưỡng A và B, chất lượng môi trường nước ở mức tốt đến mức trung bình, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Tuy nhiên, trên sông Lam thông số TSS có giá trị cao, từ cầu Mường Xén đến Thuận Sơn ở mức xấu đến rất xấu (mức C D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, nguyên nhân là do đợt 6 quan trắc vào mùa mưa nên nước có dòng chảy mạnh. Thông số TSS tại điểm Tân Kỳ và Thành Sơn có giá trị ở mức xấu phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Nhìn chung, kết quả quan trắc trên sông Lam và các phụ lưu Đợt 6/2024 cho thấy các thông số khá tương đồng so với Đợt 5/2024. Tại một số vị trí, thông số quan trắc DO, TN có chất lượng cải thiện tốt hơn so với Đợt 5/2024.

Hiện trạng chất lượng môi trường nước biển ven bờ

Chất lượng môi trường nước biển ven bờ Đợt 6/2024 cho thấy, các thông số quan trắc pH, DO đều có chất lượng đạt so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT- Bảng 1 giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước. Thông số TSS tại điểm cửa Lèn vượt so với quy chuẩn, các điểm quan trắc còn lại đều đạt so với Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT.

Thông số Amoni Đợt 6/2024 cho thấy có 6 điểm là cảng Mũi Chùa, cảng Cửa Ông, Bình Hương, Bạch Đằng, Đình Vũ và cửa biển sông Lam đạt Quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT, các điểm còn lại đều vượt so với Quy   10:2023/BTNMT. Nhìn chung thông số Amoni Đợt 6/2024 có sự cải thiện nhiều và khá rõ rệt so với thời điểm quan trắc Đợt 5/2024.

Thôn số Fe môi trường nước biển Đợt 6/2024 có 2 điểm không đạt vượt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT tại Bạch Đằng và cửa Lèn, các điểm quan trắc còn lại đều đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT. Thông số Fe quan trắc môi trường nước nước biển ven bờ trong Đợt 6/2024 có chất lượng được cải thiện tốt hơn so với Đợt 5/2024.

Môi trường nước biển ven bờ đối với các thông số quan trắc còn lại Pb, Cd, As, Hg, Tổng Cr, tổng Phenol trong đợt Đợt 6/2024 cho thấy tất cả các giá trị quan trắc đều đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT-Bảng 1 giá trị giới hạn của các thông số chất lượng nước biển vùng biển ven bờ nhằm mục đích bảo vệ môi trường sống dưới nước.

Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường, chỉ số chất lượng môi trường khu vực miền Bắc đợt 6/2024 cho thấy:

- Chất lượng môi trường không khí xung quanh tại các địa phương khu vực phía miền Bắc tiếp tục duy trì mức tốt như thời điểm quan trắc Đợt 5 (tháng 7/2024), các thông số quan trắc không khí xung quanh (TSP, CO, NO2, SO2) đều đạt giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h), duy nhất thông số tiếng ồn tại một số điểm quan trắc gần KCN và đường giao thông vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (khung thời gian từ 6-21h).

- Chất lượng môi trường nước mặt trên các LVS Hồng - Thái Bình, Đà; LVS Mã - Chu và LVS Cả - La (Sông Lam, sông La) duy trì ở mức tốt, hầu như các vị trí quan trắc có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.  Trên LVS Cầu tiếp tục bị ô nhiễm môi trường nước trên nhánh sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối đối với các thông số DO, COD, BOD5, các nhánh sông còn lại hầu như chất lượng các thông số duy trì từ mức trung bình đến tốt (mức A, B) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. LVS Nhuệ Đáy bị ô nhiễm nặng trên nhánh sông Nhuệ và các sông nội thành Hà Nội đối với các thông số DO, COD, BOD5, TN, TP tại các điểm quan trắc đều ở ngưỡng rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT và chưa có dấu hiệu cải thiện chất lượng nước so với quan trắc Đợt 5/2024.

- Chất lượng môi trường nước biển ven bờ: Hầu hết các thông số quan trắc có chất lượng khá tốt và đạt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT. Có 3 thông số N-NH4+, Fe, TSS có số điểm vượt so với quy chuẩn QCVN 10:2023/BTNMT lần lượt các tỷ lệ 76%, 8%, 4%. Kết quả quan trắc môi trường nước biển ven bờ Đợt 6/2024 đối với các thông số Fe, N-NH4+ có chất lượng được cải thiện tốt hơn so với Đợt 5/2024.