Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 2 năm 2024

Quan trắc môi trường định kỳ 15/05/2024

Báo cáo đánh giá tóm tắt chất lượng môi trường không khí và nước được xây dựng trên cơ sở kết quả quan trắc đợt 2 (tháng 4/2024) do Trung tâm Quan trắc môi trường miền Bắc thực hiện. Trong đó, chất lượng môi trường không khí được đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 31 điểm quan trắc thuộc địa bàn các tỉnh vùng KTTĐ phía Bắc và một số điểm nóng về ô nhiễm môi trường không khí tại một số khu đô thị, KCN… trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; chất lượng môi trường nước đánh giá dựa trên kết quả quan trắc tại 185 điểm quan trắc môi trường nước mặt thuộc 05 lưu vực sông (LVS Cầu, LVS Nhuệ - Đáy, LVS Mã - Chu, LVS Hồng - Thái Bình, Đà và LVS Cả - La).

 

Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước khu vực  miền Bắc đợt 2 năm 2024 như sau:

Hiện trạng chất lượng môi trường không khí

Thời gian quan trắc đợt 2 (tháng 4/2024) thực hiện từ ngày 08 tháng 4 đến hết ngày 24 tháng 4 năm 2024, trong tiết trời mát toàn vùng, có nắng nóng cục bộ tại một vài thời điểm quan trắc. Nhiệt độ dao động trong khoảng 23,0 ÷ 35,5 oC, độ ẩm tương đối dao động từ 65,9 ÷ 82,7%, áp suất khí quyển chênh lệch từ 1002,3 ÷ 1018,2 hPa. Hướng gió chủ đạo là hướng Đông Nam (chiếm 48%) và Đông (chiếm 23%), vận tốc gió trung bình là 2,2m/s, dao động trong khoảng 1,2 ÷ 3,2m/s.

Kết quả quan trắc đợt 2 (tháng 4/2024) cho thấy, trong 6 thông số quan trắc quan trắc môi trường không khí (TSP, CO, NO2, SO2, Pb, Tiếng ồn) chỉ có thông số tiếng ồn có giá trị vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT với 58/93 điểm quan trắc chiếm tỷ lệ vượt 62,4%. Các thông số quan trắc còn lại đều có chất lượng tốt và đạt theo quy chuẩn QCVN 05:2023/BTNMT TB 1h;

Trong thời gian quan trắc đợt 2 (tháng 4 năm 2024), kết quả quan trắc thông số TSP khá thấp, phần lớn các điểm có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép theo QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Giá trị TSP quan trắc dao động từ 134-284 µg/Nm3, giá trị quan trắc TSP cả đợt 1 và đợt 2 tại các vị trí quan trắc đều thấp và đạt theo quy chuẩn QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h).

Đối với các KCN, thời điểm quan trắc đợt 2 (tháng 4 năm 2024), ghi nhận tất cả các vị trí quan trắc có giá trị TSP nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h), giá trị TSP tại các vị trí dao động từ 164-280 µg/Nm3. Kết quả quan trắc 2 đợt năm 2024 cho thấy, tại 1 số vị trí trí quan trắc tại địa bàn Hải Phòng, Hưng Yên, Quảng ninh có giá trị đợt 2 tăng cao hơn so với đợt 1, các điểm quan trắc tại các địa bàn Hà Nội, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc và Hải Dương có giá trị tương đồng giữa 2 đợt.

Tại các nút giao thông hay các khu dân cư, thời điểm quan trắc đợt 2 năm 2024 ghi nhận giá trị TSP thu được đều nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) và không có nhiều biến động so với đợt 1-2024. Giá trị TSP tại khu vực giao thông dao động từ 155-250 µg/Nm3, cao hơn so với khu dân cư trong khoảng 139-226 µg/Nm3.

Đối với các thông số khác (CO, Pb, SO2, NO2) thời điểm quan trắc Đợt 2 (tháng 4 năm 2024) đều nhỏ hơn giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h) lần lượt đối với CO là 30.000 µg/Nm3; NO2 là 200 µg/Nm3; SO2 là 350 µg/Nm3. Giá trị các thông số đều tương đồng so với đợt 1-2024.

Kết quả quan trắc tiếng ồn, Đợt 2 có 50/91 giá trị (17/31 điểm đo) có giá trị tiếng ồn vượt so với quy chuẩn QCVN 26:2010/BTNMT (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h). Số giá trị và điểm đo có giá trị vượt quy chuẩn giảm so với đợt 1-2024.

Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt

Kết quả quan trắc đợt 2 (tháng 4 năm 2024) trên 05 lưu vực sông (LVS) khu vực phía Bắc cho thấy, giá trị các thông số đạt mức A (chất lượng nước tốt) có sự chênh lệnh lớn giữa các thông số, dao động từ 5,4-81,6%, trong đó thấp nhất là thông số tổng N (TN) chỉ đạt 5,4%, kế tiếp là thông số tổng P (TP) có 12,4% giá trị đạt mức A, phản ánh nước sông ở khu vực phía Bắc đến thời điểm đợt 2 năm 2024 tiếp tục bị ô nhiễm chủ yếu bởi nhóm thông số dinh dưỡng. 

Cũng qua kết quả quan trắc đợt 2 năm 2024 cho thấy, chất lượng môi trường nước trên các LVS khác nhau có sự khác nhau, cụ thể:

Chất lượng môi trường nước lưu vực sông Cầu

Trên dòng chính sông Cầu, thời điểm quan trắc đợt 2 (tháng 4/2024) cho kết quả trên 90% giá trị thông số pH và TSS; 90% giá trị COD, BOD5 và trên 60%  đạt mức trung bình đến mức tốt (mức B đến mức A); 30% giá trị thông số TP đạt mức trung bình (mức B), thông số TN tiếp tục ở ngưỡng rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

So với thời điểm quan trắc đợt 1 năm 2024, giá trị các thông số có sự biến động, trong đó giá trị thông số COD, BOD5 chiếm tỷ lệ mức trung bình đến mức tốt tăng so với đợt 1, ngược lại ô nhiễm dinh dưỡng trên dòng chính sông Cầu tăng (100% giá trị TN, 32% giá trị TP ở mức xấu đến rất xấu).

Chất lượng môi trường nước trên dòng chính sông Cầu thời điểm quan trắc đợt 2 (tháng 4 năm 2024) đạt mức tốt đồng đều trên cả tuyến sông, trừ khu vực Vạn Phúc và Hòa Long (Bắc Ninh-Bắc Giang), chất lượng nước bị suy giảm, giá trị các thông số DO, COD, BOD5, trong ngưỡng xấu (mức C) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Đáng chú ý thời điểm quan trắc đợt 2 ghi nhận sự suy giảm giá trị TP tại khu vực thượng lưu sông Cầu, liên tục từ điểm Dương Phong đến điểm Tân Phú, giá trị TP ở ngưỡng xấu đến rất xấu (mức C đến mức D). Giá trị TN vẫn tiếp tục ở mức rất xấu và chưa được cải thiện so với thời điểm quan trắc đợt 1 năm 2024.

Trên các phụ lưu (sông Công, sông Nghinh Tường và sông Thương tại Hải Dương), giá trị các thông số TN và TP tại phần lớn các điểm quan trắc cho kết quả quan trắc ở mức xấu đến mức rất xấu, phản ánh nước sông bị ô nhiễm bởi nhóm thông số dinh dưỡng, các thông số khác DO, COD, BOD5, tiếp tục duy trì mức trung bình đến mức tốt, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.

Sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối vẫn là các điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước trên LVS Cầu. Trong đó, tại điểm cầu Đào Xá trên sông Ngũ Huyện Khê, các thông số DO, COD, BOD5, TN ở ngưỡng rất xấu, TP ở ngưỡng xấu, các điểm quan trắc còn lại (cầu Song Thát và Văn Môn) cũng trong tình trạng bị ô nhiễm bởi hợp chất dinh dưỡng, giá trị TN, TP ở mức C đến mức D. So với đợt 1 năm 2024, trên sông Ngũ Huyện Khê ô nhiễm hữu cơ giảm, song ô nhiễm dinh dưỡng tăng. Tại suối Bóng Tối, cầu Cam Giá, thời điểm quan trắc đợt 2 năm 2024 mức độ ô nhiễm tăng so với đợt 1, giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN và TP đều ở ngưỡng xấu đến rất xấu (mức C đến mức D) theo QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước trên LVS Nhuệ, Đáy

LVS Nhuệ Đáy tiếp tục là LVS cho kết quả quan trắc với nhiều thông số có giá trị ở mức rất xấu (mức D) so với các LVS thực hiện quan trắc ở khu vực phía Bắc. Trừ thông số pH và TSS, đa phần giá trị quan trắc đạt mức trung bình đến tốt, các thông số còn lại DO, COD, BOD5, TN và TP có đến trên 60% giá trị thông số ở mức xấu đến rất xấu theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT và ít có sự biến động so với kết quả quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024).

Tương tự như các LVS khác, chất lượng nước trên LVS Nhuệ, Đáy cũng có sự phân hóa theo dòng chảy và có sự chênh lệch lớn về mức độ ô nhiễm giữa các đoạn sông chảy qua khu vực đô thị và làng nghề với các đoạn sông khác, cụ thể:

Trên dòng chính sông Nhuệ, thông số TN, TP của cả 2 đợt quan trắc năm 2024 đều cho kết quả phân tích 100% giá trị ở mức rất xấu theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Các thông số COD, BOD5 đợt 2 cũng cho kết quả 100% giá trị ở rất mức xấu (mức D), thông số DO đến 90% giá trị ở mức xấu đến rất xấu theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT (trừ điểm Cống Liên Mạc, giá trị DO đạt mức trung bình). Nhìn chung, môi trường nước trên sông Nhuệ tiếp tục bị ô nhiễm bởi hợp chất hữu cơ và hợp chất dinh dưỡng và chưa có dấu hiệu được cải thiện so với đợt 1 năm 2024   

Sông Đáy, đoạn chảy qua địa phận Tp. Hà Nội và Hà Nam nước sông chỉ sử dụng được cho mục đích sản xuất công nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý hoặc  giao thông thủy và các mục đích có yêu cầu sử dụng nước thấp, giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TN phần lớn các điểm quan trắc ở ngưỡng xấu đến rất xấu (mức C đến mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Nước sông Đáy được cải thiện dần khi về phía khu vực hạ lưu sông (đoạn qua tỉnh Ninh Bình), trong đó 100% giá trị pH, DO, TP đạt mức tốt và trung bình, trên 50% giá trị thông số COD; 63% giá trị thông số BOD5 và 25% giá trị thông số TN đạt mức trung bình đến mức tốt theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Nhìn chung chất lượng nước trên sông Đáy thời điểm quan trắc đợt 2 (tháng 4 năm 2024) ít biện động so với thời điểm quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024).

Trên các phụ lưu sông Hoàng Long (Ninh Bình), sông Đào (Nam Định), các thông số đều cho kết quả chất lượng nước đạt mức trung bình đến mức tốt, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Ngoại trừ thông số TN tiếp tục bị ô nhiễm, giá trị TN ở mức rất xấu (mức D) trên các phụ lưu thuộc LVS Nhuệ Đáy.

Trên sông Châu Giang, tại Cầu Phủ Lý và điểm cầu Sắt chất lượng nước sông ở mức xấu đến rất xấu, giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TN trong ngưỡng phân loại mức D do tiếp nhận một phần nước bị ô nhiễm từ sông Nhuệ. 

Các sông nội thành Hà Nội đợt 2/2024 tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ và dinh dưỡng và chưa có dấu hiệu được cải thiện. Toàn bộ các điểm quan trắc trên các sông nội thành Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu) cho kết quả giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN, TP cao, ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà

Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà đợt 2 (tháng 4 năm 2024) ít biến động so với thời điểm quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024), phần lớn các thông số duy trì mức tốt đến mức trung bình, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Cụ thể 100% giá trị thông số pH, DO và TSS; trên 90% giá trị thông số COD, BOD5 và TP đạt mức A và mức B theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Tuy nhiên thông số TN có giá trị ở mức xấu và rất xấu trong thời điểm quan trắc khá cao, chiếm 90% tổng giá trị quan trắc trên LVS.

Trên các phụ lưu (sông Đà, sông Lô, sông Thái Bình), môi trường nước sông rất tốt, ngoại trừ ô nhiễm TN, các thông số khác đều đạt ở ngưỡng tốt đến ngưỡng trung bình theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Chất lượng môi trường nước LVS Mã - Chu

Chất lượng môi trường nước trên LVS Mã – Chu quan trắc đợt 2 năm 2024 khá tốt, ngoại trừ thông số TN có giá trị ở ngưỡng rất xấu, không đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, các thông số còn lại gồm pH, TSS, DO, COD, BOD5 và TP, phần lớn các điểm quan trắc cho kết quả ở mức tốt đến mức trung bình theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Tuy nhiên, tại các khu vực hoạt động của tàu thuyền qua lại lớn như cầu Na Sài, cầu La Hán, cầu Cẩm Thủy và cửa Hới, chất lượng nước sông bị suy giảm hơn so với các khu vực khác.

Nhìn chung chất lượng môi trường nước LVS Mã –Chu duy trì mức tốt như thời điểm quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024).

Chất lượng môi trường nước sông La, sông Lam

Trên sông Cả La và các phụ lưu, thời điểm quan trắc đợt 2 năm 2024 cho kết quả phần lớn các điểm quan trắc cho giá trị các thông số đạt ở mức tốt đến mức trung bình, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cần biện pháp xử lý. Ngoại trừ thông số TN có trên 60% giá trị ở mức xấu đến mức rất xấu (mức C đến mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.

Nhìn chung, kết quả quan trắc đợt 2 năm 2024 ít biến động so với kết quả quan trắc đợt 1 năm 2024, ngoại trừ thông số TN được cải thiện hơn (đợt 2: gần 40% giá trị thông số TN đạt mức trung bình đến mức tốt; đợt 1: 100% giá trị TN ở mức rất xấu).

Trên sông Lam và các phụ lưu cho thấy, phần lớn các điểm quan trắc cho giá trị các sông số ở ngưỡng A và B, chất lượng môi trường nước ở mức tốt đến mức trung bình, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý. Tuy nhiên trên nhánh sông Vinh tại Cầu Bến Thủy 2 và điểm Hạng Dịch chất lượng nước sông bị suy giảm, giá trị thông số COD, BOD5 ở ngưỡng xấu đến rất xấu, do chịu ảnh hưởng nước thải sinh hoạt tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An và hoạt động của tàu, thuyền ra vào khu vực.

Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường, chỉ số chất lượng môi trường khu vực miền Bắc đợt 2/2024 cho thấy:

- Môi trường không khí: Chất lượng môi trường không khí các địa phương miền Bắc tiếp tục duy trì mức tốt như thời điểm quan trắc tháng 3 năm 2024, các thông số quan trắc khí (TSP, CO, NO2, SO2) đều đạt giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h), duy nhất thông số tiếng ồn tại một số điểm quan trắc gần KCN và đường giao thông vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (khung thời gian từ 6-21h).

- Môi trường nước: Chất lượng môi trường nước trên các LVS Hồng - Thái Bình, Đà; LVS Mã - Chu và LVS Cả - La (Sông Lam, sông La) duy trì ở mức tốt.  Nước có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Trên LVS Cầu tiếp tục bị ô nhiễm môi trường nước trên nhánh sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối và suối Cam Giá, các nhánh sông còn lại có chất lượng các thông số duy trì từ mức trung bình đến tốt. LVS Nhuệ Đáy bị ô nhiễm nặng trên nhánh sông Nhuệ và các sông nội thành Hà Nội với các thông số DO, COD, BOD5, TN, TP tại các điểm quan trắc đều ở ngưỡng rất xấu (mức D) theo QCVN 08:2023/BTNMT. LVS Hồng - Thái Bình, Đà; LVS Mã - Chu và LVS Cả - La vẫn duy trì chất lượng nước tốt. LVS Cầu và LVS Nhuệ Đáy có nhiều đoạn và nhánh sông (sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối, suối Cam Giá, sông Nhuệ, các nhánh sông nội thành Hà Nội) vẫn tiếp tục bị ô nhiễm nặng đối với các thông số DO, COD, BOD5, TN, TP tại các điểm quan trắc đều ở ngưỡng rất xấu (mức D) theo QCVN 08:2023/BTNMT.