Báo cáo chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 1 năm 2024
Quan trắc môi trường định kỳ 25/04/2024
Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí và nước khu vực miền Bắc đợt 1 năm 2024 như sau:
Hiện trạng chất lượng môi trường không khí:
Thời gian quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024) diễn ra từ ngày 20 tháng 3 đến hết ngày 04 tháng 4 năm 2024, trong tiết trời mát. Nhiệt độ dao động trong khoảng 29,0 ÷ 36,3 oC, độ ẩm tương đối dao động từ 49,1 ÷ 80,6%, áp suất khí quyển chênh lệch từ 1003,0 ÷ 1023,5 hPa. Hướng gió chủ đạo là hướng Đông Nam (chiếm 35%) và Đông (chiếm 12%), vận tốc gió trung bình là 3,1m/s, dao động trong khoảng 1,0 ÷ 4,3m/s. Kết quả quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024) phản ánh chất lượng môi trường khá sạch, ngoại trừ tiếng ồn vượt giới hạn cho phép QCVN 26:2010/BTNMT (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h), các thông số quan trắc, phân tích khác như TSP, CO, NO2, SO2 cho giá trị thấp và đều đạt QCVN 05:2023/BTNMT.
Chi tiết diễn biến các thông số như sau:
Thông số TSP: dao động từ 93-261 µg/Nm3 và có sự chênh lệch giữa các khu vực thực hiện quan trắc. Giá trị TSP tại các vị trí gần khu công nghiệp (KCN) cao hơn so với các khu vực dân cư tập trung hay gần trục giao thông nội đô.
Tại các điểm quan trắc gần KCN trên địa bàn tỉnh thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc thời điểm quan trắc đợt 1 năm 2024 cho giá trị thấp, dao động từ 146-261 µg/Nm3 và đều đạt giới hạn cho phép QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h).
Tại các nút giao thông đô thị, thời điểm quan trắc đợt 1 năm 2024 cho kết quả dao động từ 95-249 µg/Nm3 và đều đạt giới hạn cho phép QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). So với nút giao thông các địa phương như Quảng Ninh, Hải Dương và Hà Tĩnh, các điểm quan trắc tại các nút giao thông ở thành phố Hà Nội ghi nhận giá trị TSP cao hơn dao động từ 200-249 µg/Nm3.
Đối với kết quả quan trắc tại một số điểm dân cư, giá trị TSP dao động trong khoảng 99-201µg/Nm3 và đều đạt giới hạn cho phép QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h).
Đối với các thông số khác (CO, SO2, NO2) thời điểm quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024) cho giá trị thấp, trong đó giá trị NO2 dao động từ 10,2-38,3 µg/Nm3; giá trị SO2 dao động từ 26,6-48,3 µg/Nm3 và giá trị CO dao động từ 1.516-2.530 3 µg/Nm3 và đều đạt giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h).
Kết quả quan trắc tiếng ồn, đợt 1 cho thấy, có 58/91 giá trị (19/31 điểm đo) có giá trị tiếng ồn chạm ngưỡng và vượt giới hạn cho phép theo QCVN 26:2010/BTNMT (70 dBA, áp dụng với khung thời gian từ 6-21h).
Hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt
Kết quả quan trắc đợt 1 (tháng 3 năm 2024) trên 05 lưu vực sông (LVS) khu vực phía Bắc cho thấy, trong số 185 điểm quan trắc trên 05 LVS duy nhất thông số pH đạt 100% giá trị ở mức A, phân loại chất lượng nước ở mức tốt (mức A). Các thông số còn lại có tỷ lệ đạt mức A chênh lệch khá lớn, dao động từ 1,6-72,5%, trong đó thấp nhất là thông số tổng N (TN) chỉ đạt 1,6%, kế tiếp là thông số tổng P (TP) có 18,4% giá trị đạt mức A.
Qua kết quả quan trắc đợt 1 năm 2024 cho thấy, nước sông ở khu vực phía Bắc chủ yếu bị ô nhiễm bởi nhóm thông số dinh dưỡng (tổng N, tổng P), có đến 95,1% giá trị thông số tổng N (TN) ở mức rất xấu (mức D) và 43,8% giá trị thông số tổng P (TP) ở mức xấu (mức C) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.
Xét theo từng LVS, chất lượng môi trường nước sông có sự phân hóa theo từng đoạn sông, phụ thuộc sự phát triển kinh tế, xã hội tại các đoạn sông chảy qua, cụ thể:
Chất lượng môi trường nước lưu vực sông Cầu
Trên dòng chính sông Cầu, thời điểm quan trắc đợt 1 (tháng 3/2024) cho thấy, 100% giá trị thông số pH và TSS đạt mức tốt (mức A), các thông số DO, COD, BOD5 và TP chiếm trên 60% giá trị các thông số đạt mức trung bình đến mức tốt. Đáng lưu ý là giá trị TN, kết quả quan trắc đợt 1 khá cao, 100% các điểm quan trắc cho kết quả quan trắc ở ngưỡng D (mức rất xấu) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.
Chất lượng nước dòng chính sông Cầu có sự phân hóa theo dòng chảy, tại khu vực thượng lưu, đoạn chảy qua Bắc Kạn và Thái Nguyên thời điểm quan trắc đợt 1 (tháng 3/2024), cho kết quả chất lượng nước tốt, các thông số DO, COD, BOD5, TSS đều đạt mức A, phản ánh chất lượng nước sông ở mức tốt, nước có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Từ đoạn Cầu Gia Bảy (đoạn qua thành phố Thái Nguyên) về đến khu vực hạ lưu điểm cuối tỉnh Bắc Ninh chất lượng nước có phần bị suy giảm, đa phần các điểm quan trắc cho kết quả thông số COD, BOD5, TP và TN ở mức rất xấu đến mức xấu. Nguyên nhân một phần do tiếp nhận nước ô nhiễm từ sông Ngũ Huyện Khê và nước thải chưa qua xử lý xả thải ra sông.
Trên các phụ lưu (sông Công, sông Nghinh Tường và sông Thương tại Hải Dương), ngoại trừ thông số TN cho kết quả quan trắc đợt 1/2024 ở mức ô nhiễm nặng (TN >0.5 mg/L), đa phần các điểm quan trắc cho giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TP đạt mức A, phản ánh chất lượng nước sông ở mức tốt, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.
Sông Ngũ Huyện Khê, suối Bóng Tối vẫn là các điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước trên LVS Cầu. Trong đó, sông Ngũ Huyện Khê 100% giá trị thông số COD, BOD5, TN cho kết quả quan trắc ở mức D (mức rất xấu). Tại suối Bóng Tối giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TN, TP thời điểm quan trắc đợt 1/2024 ở mức xấu đến rất xấu, nước sông chỉ có thể sử dụng cho mục đích giao thông thủy và các mục đích có yêu cầu chất lượng nước thấp.
Chất lượng môi trường nước trên LVS Nhuệ, Đáy
Kết quả quan trắc Đợt 1 (tháng 3/2024) cho thấy, LVS Nhuệ, Đáy là LVS cho kết quả quan trắc có nhiều thông số cho giá trị ở mức rất xấu (mức D) nhiều nhất. Trừ thông số pH và TSS, giá trị quan trắc đạt mức trung bình đến tốt, các thông số còn lại DO, COD, BOD5, TN và TP có đến trên 50% giá trị thông số ở mức xấu đến rất xấu theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT.
Tương tự như các LVS khác, chất lượng nước trên LVS Nhuệ, Đáy cũng có sự phân hóa theo dòng chảy và có sự chênh lệch lớn về mức độ ô nhiễm giữa các đoạn sông chảy qua khu vực đô thị và làng nghề với các đoạn sông khác. Cụ thể:
Trên dòng chính sông Nhuệ, thông số TN, TP cho kết quả phân tích 100% giá trị ở mức rất xấu theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Thông số DO và COD đều có 30% giá trị ở mức xấu (mức C) và 70% giá trị ở mức rất xấu (mức D); thông số BOD5 có 40% giá trị ở mức xấu và 60% giá trị ở mức rất xấu theo phân loại chất lượng nước tại QCVN 08:2023/BTNMT. Kết quả quan trắc phản ánh, ô nhiễm trên sông Nhuệ chủ yếu là ô nhiễm bởi hợp chất dinh dưỡng và các hợp chất hữu cơ.
Mức độ ô nhiễm trên sông Nhuệ có sự khác nhau giữa các đoạn sông, đoạn chảy qua thành phố Hà Nội, trừ điểm Cống Liên Mạc, giá trị DO (4,6 mg/L) ở mức xấu (mức C), các điểm quan trắc còn lại liên tục trên cả tuyến sông từ Phúc La đến Cống Thần, 100% các thông số DO, COD, BOD5, TN và TP giá trị quan trắc ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, phản ánh nước sông chỉ sử dụng cho hoạt động giao thông thủy và các mục đích chất lượng nước thấp.
Nước sông Nhuệ vẫn tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất dinh dưỡng (TN, TP) khi chảy qua khu vực giáp ranh Hà Nội - Hà Nam (cống Nhật Tựu về đến cầu Hồng Phú). Tuy nhiên ô nhiễm hữu cơ đã được cải thiện dần, tại cầu Hồng Phú (Hà Nam), giá trị các thông số DO, COD và BOD5 giảm, đạt ở mức C, nước sông đã có thể sử dụng được cho hoạt động sản xuất công nghiệp nhưng cần các biện pháp xử lý phù hợp.
Sông Đáy, đoạn chảy qua địa phận Tp. Hà Nội và Hà Nam, giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN và TP liên tục từ Cầu Mai Lĩnh đến điểm Trung Hiếu Hạ ở mức xấu đến rất xấu theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT, phản ánh nước sông chỉ có thể sử dụng được cho mục đích sản xuất công nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý hoặc giao thông thủy và các mục đích yêu cầu chất lượng nước thấp. Chất lượng nước sông Đáy được cải thiện dần khi về phía khu vực hạ lưu sông (đoạn qua tỉnh Ninh Bình), trong đó 100% giá trị DO, TP; 50% giá trị thông số COD; 63% giá trị thông số BOD5 và 25% giá trị thông số TN đạt mức trung bình đến mức tốt theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.
Trên các phụ lưu sông Hoàng Long, trừ giá trị TN cho kết quả ở mức rất xấu, các thông số khác đều đạt mức tốt đến mức trung bình, nước có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.
Trên sông Đào, trừ thông số TN cho giá trị ở mức rất xấu (mức D), tại điểm Độc Bộ thời điểm quan trắc đợt 1 năm 2024 nước sông bị ô nhiễm bởi thông số COD, BOD5, giá trị thông số ở mức xấu (mức C) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.
Trên phụ lưu sông Châu Giang, tại Cầu Phủ Lý và điểm Hữu Bị chất lượng nước sông ở mức xấu đến rất xấu, giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TN khá cao do tiếp nhận một phần nước bị ô nhiễm từ sông Nhuệ.
Các sông nội thành Hà Nội, bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ và dinh dưỡng, toàn bộ các điểm quan trắc trên các sông nội thành Hà Nội (sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu) cho kết quả giá trị thông số DO, COD, BOD5, TN, TP cao, ở mức rất xấu (mức D) theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.
Các thông số pH và TSS không ghi nhận ô nhiễm, đạt mức tốt đến mức trung bình.
Chất lượng môi trường nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà
Chất lượng nước LVS Hồng - Thái Bình, Đà tháng 3/2024 cho thấy, phần lớn các thông số duy trì mức tốt đến mức trung bình, nước sông có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Cụ thể 100% giá trị thông số pH, DO và TSS; trên 90% giá trị thông số COD, BOD5 và TP đạt mức A và mức B theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Tuy nhiên thông số TN có giá trị ở mức xấu và rất xấu trong thời điểm quan trắc khá cao, chiếm 90% tổng giá trị quan trắc trên LVS.
Kết quả quan trắc cho thấy, mặc dù chất lượng nước trên dòng chính sông Hồng khá tốt, tuy nhiên tại một số điểm quan trắc nước sông bị suy giảm (điểm tại Trạm bơm Hữu Trác và điểm Hữu Bị trên sông Hồng, tỉnh Hà Nam), có thể do tác động hoạt động sản xuất nông nghiệp và các hoạt động dân sinh trên sông. Tại đây, giá trị thông số COD, BOD5, TN, TP khá cao, ở ngưỡng mức xấu đến rất xấu, phản ánh nước sông chỉ có thể sử dụng được cho mục đích sản xuất công nghiệp, giao thông thủy và các mục đích yêu cầu chất lượng nước thấp.
Trên các phụ lưu (sông Đà, sông Lô, sông Thái Bình), môi trường nước sông rất tốt, ngoại trừ ô nhiễm TN, các thông số khác đều đạt ở ngưỡng tốt đến ngưỡng trung bình theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.
Chất lượng môi trường nước trên LVS Mã –Chu thời điểm quan trắc đợt 1 năm 2024 khá tốt, ngoại trừ thông số TN có giá trị ở ngưỡng rất xấu, không đáp ứng yêu cầu cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, các thông số còn lại gồm pH, TSS, DO, COD, BOD5 và TP đều cho kết quả ở mức tốt đến mức trung bình theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT.
Chất lượng môi trường nước sông La, sông Lam
Trên sông La và các phụ lưu, phần lớn các điểm quan trắc cho giá trị các thông số đạt ở mức tốt đến mức trung bình, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cần biện pháp xử lý.
Thời điểm quan trắc đợt 1 năm 2024 ghi nhận duy nhất tại điểm cầu Ngàn Trươi nước sông chỉ sử dụng được cho mục đích sản xuất công nghiệp, giao thông thủy và các mục đích có yêu cầu sử dụng chất lượng nước thấp, giá trị thông số COD, BOD5, TN và TP ở ngưỡng xấu đến rất xấu theo phân loại chất lượng nước của QCVN 08:2023/BTNMT. Ngoài ra, cũng như các LVS khác ở miền Bắc, trên sông Lam, sông La và các phụ lưu bị ô nhiễm bởi thông số TN, giá trị TN cao, luôn ở ngưỡng rất xấu (mức D) trên toàn bộ tuyến sông.
Trên sông Lam và các phụ lưu, phần lớn các điểm quan trắc cho giá trị các sông số ở ngưỡng B đến ngưỡng A, chất lượng môi trường nước ở mức tốt đến mức trung bình, nước sông sử dụng được cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp nhưng cần biện pháp xử lý. Tuy nhiên đoạn sông Lam từ cầu Bến Thủy đến sông Vinh tại Cầu Bến Thủy 2, chất lượng nước sông bị suy giảm, giá trị thông số DO tại điểm Rào Đừng, điểm Cửa Hội ở ngưỡng xấu, giá trị TSS (từ cầu Bến Thủy đến cửa Hội) ở ngưỡng rất xấu, giá trị TP tại sông Vinh tại Cầu Bến Thủy 2 ở mức xấu, do chịu ảnh hưởng nước thải sinh hoạt tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An và hoạt động của tàu, thuyền ra vào khu vực.
Tổng hợp kết quả quan trắc môi trường, chỉ số chất lượng môi trường khu vực miền Bắc đợt 1/2024 cho thấy:
- Môi trường không khí: chất lượng môi trường không khí các địa phương miền Bắc khá sạch, các thông số quan trắc khí (bụi TSP, CO, NO2, SO2) đều đạt giới hạn cho phép của QCVN 05:2023/BTNMT (TB 1h). Duy nhất thông số tiếng ồn tại điểm đo gần KCN và trục giao thông vượt giới hạn cho phép của QCVN 26:2010/BTNMT (áp dụng với khung thời gian từ 6-21h).
- Môi trường nước: chất lượng môi trường nước trên các LVS Hồng - Thái Bình, Đà; LVS Mã - Chu và LVS Cả - La (Sông Lam, sông La) duy trì ở mức tốt. Nước có thể được sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, bơi lội, vui chơi dưới nước, sản xuất công nghiệp và nông nghiệp sau khi áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp. Thông qua kết quả quan trắc cho thấy, trên các LVS miền Bắc. Nước sông ở khu vực phía Bắc chủ yếu bị ô nhiễm bởi nhóm thông số dinh dưỡng (tổng N, tổng P). Đặc biệt thông số tổng N, kết quả quan trắc cho giá trị cao tại phần lớn các điểm thực hiện quan trắc, phân tích, phân loại ở ngưỡng xấu đến rất xấu theo QCVN 08:2023/BTNMT. Các điểm nóng về ô nhiễm môi trường nước trên LVS Cầu (sông Ngũ Huyện Khê và suối Bóng Tối); LVS Nhuệ, Đáy (đoạn sông Nhuệ chảy qua địa phận Tp. Hà Nội, các sông nội thành) vẫn tiếp tục bị ô nhiễm nặng bởi hợp chất hữu cơ và dinh dưỡng, giá trị các thông số DO, COD, BOD5, TN, TP tại các điểm quan trắc đều ở ngưỡng rất xấu (mức D) theo QCVN 08:2023/BTNMT.
TIN LIÊN QUAN
- BÁO CÁO TÓM TẮT CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG VÀ TÂY NGUYÊN Tháng 11 năm 2025
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 10/2025, tháng 11/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 5, tháng 10/2025)
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 9/2025, tháng 10/2025) Hà Nội, tháng 11/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 4, tháng 10/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 3, tháng 9/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 8/2025, tháng 9/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 2, tháng 9/2025)
- BÁO CÁO CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN BẮC (Đợt 7/2025, tháng 8/2025)
- CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG TẠI KHU VỰC MIỀN TRUNG (Đợt 1, tháng 8/2025)